Điều 6. Quản lý chất thải rắn xây dựng từ hoạt động cải tạo, phá dỡ công trình xây dựng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại đô thị, nông thôn
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại vùng đô thị, nông thôn khi tiến hành các hoạt động xây dựng, cải tạo hoặc phá dỡ công trình xây dựng có trách nhiệm phân loại chất thải xây dựng theo Điều 4 của Quy định này.
Nhóm chất thải có khả năng tái chế, phế liệu được chuyển giao cho chủ xử lý chất thải rắn xây dựng hoặc các đơn vị tái chế theo quy định pháp luật.
Các loại đất, bùn thải từ hoạt động đào đất, nạo vét lớp đất mặt, đào móng cọc mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu thu hồi thì thực hiện đổ thải tại các địa điểm như nêu tại điểm b, khoản 5 Điều 11 của quy định này; Trường hợp có nhu cầu thu hồi thì thực hiện theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản.
Nhóm chất thải có khả năng tái sử dụng (bê tông, gạch vụn, đá) được đổ thải tại các địa điểm như nêu tại điểm b, khoản 5 Điều 11 của quy định này hoặc sử dụng san lấp tại khu vực đất phù hợp với mục đích sử dụng trên cơ sở thỏa thuận giữa các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, đảm bảo mục đích sử dụng theo quy định pháp luật, không gây ô nhiễm môi trường.
2. Đối với chất thải rắn xây dựng không thể tái chế, tái sử dụng phải chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý, tổ chức, hộ gia đình cá nhân phải chuyển giao cho các đối tượng theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật Bảo vệ môi trường.
3. Tổ chức, hộ gia đình cá nhân Chủ nguồn chịu trách nhiệm đối với việc tái sử dụng chất thải rắn xây dựng đảm bảo theo quy định pháp luật; không đổ thải chất thải rắn xây dựng trên vỉa hè, lòng đường, nơi công cộng, sông ngòi, kênh rạch, các nguồn nước mặt khác, hệ thống thoát nước làm ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường.