Điều 30. Các khoản thu ghi ở điều 29 chỉ dùng để chi cho những việc sau đây:
1. Thù lao cho giáo viên kiêm chức. Mức thù lao quy định như sau:
- 0đ30 cho 1 giờ dạy ở cấp 1;
- Từ 0đ40 đến 0đ60 cho 1 giờ dạy ở cấp 2;
- 0đ60 đến 0đ80 cho 1 giờ dạy ở cấp 3.
(Thông tư số 54-TT/LB ngày 15-12-1961 của Liên Bộ Tài chính - Giáo dục).
Một giờ dạy bao gồm cả các khâu: chuẩn bị bài, giảng trên lớp và chấm bài.
2. Thù lao cho những uỷ viên ban giám hiệu (trừ giáo viên chuyên trách làm hiệu phó) thực sự làm công tác quản lý trường bổ túc văn hoá ngoài giờ lao động, cụ thể là: thực sự làm việc cho trường bổ túc văn hoá 2 tối trong một tuần lễ, kể cả thù lao dạy một số giờ nhất định và làm những công việc khác của nhà trường (đã quy định trong điều 11 của quy chế này), mức thù lao cho một uỷ viên giám hiệu khoảng từ 10đ00 đến 25đ00 một tháng, tuỳ theo cấp học và quy mô của trường:
- Hiệu trưởng cấp 1 từ 12đ00 đến 14đ00,
- Hiệu phó cấp 1 từ 10đ00 đến 12đ00,
- Hiệu trường cấp 2 từ 15đ00 đến 18đ00,
- Hiệu phó cấp 2 từ 13đ00 đến 16đ00,
- Hiệu trưởng cấp 3 từ 20đ00 đến 25đ00,
- Hiệu phó cấp 3 từ 18đ00 đến 20đ00.
Những uỷ viên ban giám hiệu không phải là hiệu trưởng, hiệu phó của cấp nào được hưởng thù lao ngang mức thù lao tối thiểu của hiệu phó cấp đó. Để bảo đảm chất lượng công tác, các uỷ viên ban giám hiệu (không kể uỷ viên là giáo viên chuyên trách) không được phụ trách một lúc hai trường. Nếu một uỷ viên nào, do yêu cầu của phong trào và quyết định của tập thể ban giám hiệu, phải làm tăng buổi (quá hai buổi quy định) thì mỗi buổi làm tăng đó được tính thêm thù lao, ngang mức thù lao cho 2 tiết giảng dạy ở cấp 2.
3. Thù lao cho những công lao công phụ động ở các trường lớn (phục cụ nước uống, quét dọn, trông xe đạp ...) mỗi tối từ 1 đồng đến 1 đồng hai hào.
4. Mua sắm và chi phí phục vụ giảng dạy và học tập (sách giáo khoa, sách tham khảo, sổ sách của trường lớp, văn phòng phẩm cho giáo viên và ban giám hiệu, đồ dùng dạy học, tiền điện, nước, v.v...).
5. Thưởng thi đua cuối năm.