Điều 4. Mức hỗ trợ khác
Ngoài các chính sách hỗ trợ theo quy định, các đối tượng quy định tại khoản 2, 3 Điều 2 của Quy định này còn được hỗ trợ như sau:
1. Hỗ trợ bằng tiền đối với trường hợp xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp của chính mình hoặc đất của người khác mà việc xây dựng được thực hiện trước thời điểm thông báo thu hồi đất và không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lập biên bản vi phạm.
a) Đối với trường hợp xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp của chính mình được hỗ trợ:
- Ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại nơi có thu hồi đất (có xác nhận của công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã) mức hỗ trợ không quá 25.000.000 đồng/hộ đối với trường hợp giải tỏa trắng nhà ở cất trên đất nông nghiệp.
- Bàn giao mặt bằng trước thời hạn không quá 30 ngày tính từ thời điểm tổ chức công bố trao Quyết định thu hồi đất mức hỗ trợ không quá 10.000.000 đồng/trường hợp.
- Chi phí thuê nhà không quá 06 tháng để tìm chỗ ở mới tính từ khi bàn giao mặt bằng đúng tiến độ.
- Hỗ trợ để hộ gia đình, cá nhân tự lo chỗ ở đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhà ở duy nhất, phải di chuyển chỗ ở mà không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã (nơi có đất bị thu hồi) thì được hỗ trợ không quá 90% giá trị suất tái định cư tối thiểu bằng tiền do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
- Hỗ trợ tài sản (nhà ở, công trình phục vụ đời sống) với mức hỗ trợ không vượt quá mức 95% giá trị tài sản theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định đơn giá bồi thường thiệt hại nhà, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.
- Hỗ trợ chi phí san nền đối với các trường hợp thực hiện san nền trước thời điểm Luật Đất đai 2024 có hiệu lực thi hành (ngày 01/8/2024), mức hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định .
b) Đối với trường hợp xây dựng nhà ở trên đất của người khác được hỗ trợ:
- Ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại nơi thu hồi đất (có xác nhận của công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã) mức hỗ trợ không quá 25.000.000 đồng/hộ đối với trường hợp giải tỏa trắng nhà ở mà phải di chuyển chỗ ở do cất nhà ở trên đất của người khác.
- Bàn giao mặt bằng trước thời hạn không quá 30 ngày tính từ thời điểm tổ chức công bố trao Quyết định thu hồi đất mức hỗ trợ không quá 10.000.000 đồng/trường hợp.
- Chi phí thuê nhà không quá 06 tháng để tìm chỗ ở mới tính từ khi bàn giao mặt bằng đúng tiến độ.
- Hỗ trợ để hộ gia đình, cá nhân tự lo chỗ ở đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhà ở duy nhất, phải di chuyển chỗ ở mà không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã (nơi có đất bị thu hồi) thì được hỗ trợ không quá 80% giá trị suất tái định cư tối thiểu bằng tiền do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
- Hỗ trợ tài sản (nhà ở, công trình phục vụ đời sống) với mức hỗ trợ không vượt quá mức 95% giá trị tài sản theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định đơn giá bồi thường thiệt hại nhà, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.
2. Đối với trường hợp Chủ sở hữu nhà ở và đất ở bị thu hồi đất đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ theo quy định được hỗ trợ ổn định đời sống không quá 25.000.000 đồng/hộ gia đình, cá nhân thuộc các trường giải tỏa trắng nhà ở và đất ở hoặc giải tỏa trắng nhà ở và một phần đất ở.
3. Hỗ trợ người đang thuê nhà ở (kể cả trường hợp thuộc sở hữu Nhà nước) khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở việc hỗ trợ được thực hiện như sau:
a) Hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản:
- Trường hợp chỉ có một (01) hộ gia đình, cá nhân thuê nhà ở thì kinh phí hỗ trợ di chuyển cho hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở được tính không quá 50% mức bồi thường chi phí di chuyển tài sản khi Nhà nước thu hồi đất.
- Trường hợp có nhiều hơn một (01) hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở thì kinh phí hỗ trợ di chuyển cho mỗi hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở được tính không quá 25% mức bồi thường chi phí di chuyển tài sản khi Nhà nước thu hồi đất.
b) Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở chỉ được xét hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này khi hợp đồng thuê nhà ở được ký trước thời điểm thông báo thu hồi đất và tại thời điểm thu hồi đất còn thời hạn thuê nhà đồng thời người thuê nhà ở thực hiện đăng ký tạm trú trước thời điểm thông báo thu hồi đất theo quy định của pháp luật.
4. Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường
Trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường thì ngoài việc bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định còn được hỗ trợ bằng tiền; tổng mức bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và mức hỗ trợ không vượt quá mức bồi thường về đất do tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định.
5. Hỗ trợ đất do nhà nước quản lý (đất công) xen kẹt
Trường hợp trong dự án thu hồi đất có phần đất công xen kẹt, Nhà đầu tư thực hiện hỗ trợ đối với phần diện tích đất thu hồi của loại đất có cùng vị trí và phần kinh phí hỗ trợ này do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và sử dụng vào mục tiêu đầu tư hạ tầng trên địa bàn xã ưu tiên cho địa bàn xã, phường nơi có đất bị thu hồi, phần kinh phí hỗ trợ được đưa vào phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Mức hỗ trợ bằng 10% đơn giá đất ở cùng vị trí do tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định.
6. Hỗ trợ thu nhập giảm sút đối với hộ gia đình, cá nhân có thu nhập trực tiếp từ việc sử dụng đất bị thu hồi đất với mức hỗ trợ không quá 20.000.000 đồng/trường hợp. Việc xác định giảm sút thu nhập do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận.
7. Hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất trong vùng lúa chất lượng cao, vùng chăn nuôi, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, làng nghề truyền thống với mức hỗ trợ không quá 20.000.000 đồng/trường hợp.
8. Hỗ trợ tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền nhận chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước nhưng khi thu hồi đất người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện bồi thường về quyền sử dụng đất. Mức hỗ trợ không vượt quá mức bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất do đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã xác định.
9. Đối với trường hợp thu hồi đất ở, nhà ở được xây dựng trên đất ở mà người bị thu hồi đất có kết hợp với kinh doanh, buôn bán được hỗ trợ cho thuê quỹ đất ngắn hạn không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện kinh doanh, buôn bán; diện tích cho thuê không vượt quá diện tích đất bị thu hồi, thời hạn thuê đất không quá 05 năm, đơn giá thuê đất được xác định theo quy định hiện hành.
10. Ngoài việc hỗ trợ theo quy định, đối với hộ gia đình chính sách (có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo (có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn trong thời gian có hiệu lực) được hỗ trợ như sau:
a) Đối với hộ gia đình chính sách (người có công với cách mạng hoặc thân nhân người có công theo pháp luật về ưu đãi người có công (còn sống); các đối tượng chính sách khác (còn sống) hiện do ngành Nội vụ quản lý và thực hiện chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí theo quy định).
- Nếu bị giải tỏa trắng nhà ở nhưng không bị thu hồi toàn bộ đất hỗ trợ không quá 15.000.000 đồng/hộ.
- Nếu bị giải tỏa trắng nhà ở và bị thu hồi toàn bộ đất hỗ trợ không quá 20.000.000 đồng/hộ.
b) Đối với hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo
- Nếu bị giải tỏa trắng nhà ở nhưng không bị thu hồi toàn bộ đất được hỗ trợ một lần tương đương 30 kg gạo/tháng/hộ (hoặc quy ra giá trị bằng tiền), thời gian hỗ trợ 3 năm.
- Nếu bị giải tỏa trắng nhà ở và bị thu hồi toàn bộ đất được hỗ trợ một lần tương đương 30 kg gạo/tháng/hộ (hoặc quy ra giá trị bằng tiền), thời gian hỗ trợ 6 năm.
Trường hợp người bị thu hồi đất đáp ứng cả 02 mức hỗ trợ nêu trên thì chỉ được hưởng 01 mức cao nhất.
c) Đơn giá gạo để tính hỗ trợ tại điểm b Điều này là đơn giá gạo trung bình của thị trường ở tỉnh Tây Ninh tại thời điểm bồi thường do Sở Tài chính thông báo theo định kỳ đầu quý.
11. Ngoài các chính sách hỗ trợ quy định tại Điều 4 của quy định này, căn cứ tình hình thực tế của địa phương Ủy ban nhân nhân cấp xã đề xuất biện pháp, mức hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định).