vanban.org

Điều 9. Các biện pháp chữa cháy rừng — Quyết định 11/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/12/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/12/2020 Thay thế: 16/2020/QĐ-UBND · 27/11/2020
Quảng Nam Ban hành 09/04/2014 Hiệu lực 19/04/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 16/2020/QĐ-UBND Ban hành Quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 16/2020/QĐ-UBND
Quyết định số 11/2014/QĐ-UBND Ban hành quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 11/2014/QĐ-UBND
15/12/202016/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 19/04/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 11/2014/QĐ-UBND › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Các biện pháp chữa cháy rừng

1. Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ

a) Các địa phương, đơn vị, chủ rừng trên địa bàn tỉnh bảo quản tốt và chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện, thiết bị, các công trình PCCCR đã có như: Xe chữa cháy chuyên dụng của Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH, máy bơm nước chữa cháy, cưa xăng, máy thổi gió, máy cắt thực bì, thuyền máy, ca nô, xe ô tô, xe máy, hệ thống thông tin liên lạc, đồ bảo hộ, kẻng báo động, trạm quan trắc khí tượng cảnh báo cháy rừng và các phương tiện khác. Ngoài ra, trang bị thêm đồ bảo hộ và các dụng cụ cần thiết chữa cháy rừng như: Dao, rựa, bào cào, can đựng nước, bàn dập lửa, đèn pin và các dụng cụ khác để dự phòng cho lực lượng tăng cường chữa cháy rừng.

b) Trường hợp xảy ra cháy rừng lớn, khi có yêu cầu của địa phương thì điều động xe cứu hỏa tại thành phố Hội An và Tam Kỳ; khi cần tăng cường lực lượng từ các địa phương khác thì các Đội xe, Hợp tác xã, bến xe khách của các huyện, thành phố sẵn sàng bố trí xe để vận chuyển lực lượng, thiết bị chữa cháy đến khu vực xảy ra cháy rừng để ứng cứu.

2. Tổ chức lực lượng chữa cháy rừng

Cháy rừng xảy ra trên địa bàn xã nào hoặc huyện, thành phố nào thì các xã, huyện, thành phố lân cận sẵn sàng tăng cường lực lượng và phương tiện cứu chữa khi có yêu cầu của các địa phương xảy ra cháy rừng hoặc có sự điều động của Ban chỉ đạo cấp trên; chia thành các khu vực sau:

a) Cháy rừng lớn xảy ra tại các huyện: Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Núi Thành, Phú Ninh, Thăng Bình, Quế Sơn, Nông Sơn, Hiệp Đức và thành phố Tam Kỳ thì lực lượng, phương tiện và thiết bị PCCCR được huy động để cứu chữa là của những địa phương nêu trên cùng với lực lượng, phương tiện, thiết bị, dụng cụ chữa cháy của Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 (Chi cục Kiểm lâm) và Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH.

b) Cháy rừng lớn xảy ra tại các huyện: Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc và thành phố Hội An thì lực lượng, phương tiện và thiết bị PCCCR được huy động để cứu chữa là của những địa phương nêu trên cùng với lực lượng, phương tiện, thiết bị, dụng cụ chữa cháy của Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 2 (Chi cục Kiểm lâm) và Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH.

c) Tùy theo diễn biến của từng vụ cháy mà có thể huy động toàn bộ lực lượng, phương tiện, dụng cụ của các đơn vị, địa phương trên địa bàn toàn tỉnh để chữa cháy rừng khi có yêu cầu.

3. Các biện pháp kỹ thuật chữa cháy rừng

a) Biện pháp chữa cháy trực tiếp: Đối với đám cháy nhỏ có diện tích dưới 01 hécta của loại hình cháy mặt đất, cháy tán và cháy ngầm có thể sử dụng các dụng cụ từ thô sơ đến hiện đại tác động trực tiếp vào đám cháy để dập tắt lửa.

b) Biện pháp chữa cháy gián tiếp: Là biện pháp dùng lực lượng và phương tiện để giới hạn đám cháy từ xa như làm đường băng cản lửa, áp dụng giải pháp làm giảm vật liệu cháy, làm giảm độ khô của vật liệu cháy, chủ động đốt trước hoặc các biện pháp ngăn chặn khác. Biện pháp này áp dụng khi xảy ra cháy với quy mô và cường độ cao, diện tích rừng còn lại của khu rừng lớn, việc trực tiếp dập lửa hiệu quả thấp, không an toàn cho người và phương tiện.

c) Kết hợp giữa biện pháp chữa cháy trực tiếp và gián tiếp.

d) Kỹ thuật an toàn trong khi chữa cháy rừng: Trong chữa cháy rừng phải luôn luôn quán triệt yêu cầu về bảo đảm an toàn cho người và phương tiện tham gia chữa cháy.

4. Kỹ thuật đốt xử lý thực bì

a) Khi đốt nương rẫy, đốt xử lý thực bì để trồng rừng, đốt vệ sinh rừng sau khai thác hoặc các trường hợp đốt xử lý khác phải phát dọn toàn bộ thực bì, phơi khô và vun thành dải rộng từ 2-3m, dải nọ cách dải kia từ 5-6m và cách xa bìa rừng từ 6-8m, đốt lúc gió nhẹ (tốc độ gió dưới 10km/giờ) vào buổi sáng từ 6-8 giờ hoặc buổi chiều tối từ 16-18 giờ; đốt lần lượt từng dải, thứ tự từ trên sườn đồi xuống chân đồi; cứ 10-15m có một người canh gác trên băng, tuyệt đối không để lửa cháy lan vào rừng. Đốt xong, kiểm tra lại toàn bộ diện tích đốt cho tới khi lửa tắt hẳn mới ra về.

b) Những người có sử dụng lửa để đốt dọn thực bì trong và gần rừng phải đăng ký đầy đủ về thời gian, địa điểm, diện tích, loại thực bì cần đốt với Trưởng thôn, lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng và PCCCR, Kiểm lâm địa bàn để được hướng dẫn, theo dõi và kiểm soát.