Điều 13. Ban chấp hành
1. Ban chấp hành là cơ quan cao nhất của Hội giữa 2 nhiệm kỳ Đại hội; họp thường kỳ 2 lần/năm, họp bất thường khi cần thiết (do BTV Hội triệu tập).
2. Số lượng Ủy viên Ban chấp hành do Đại hội quyết định. Ban chấp hành bầu ra Ban Thường vụ, có Chủ tịch và các Phó Chủ tịch.
3. Danh sách các Ủy viên đề cử và ứng cử vào Ban chấp hành phải được Ban chấp hành thông qua. Trường hợp cần bổ sung, thay thế các Ủy viên Ban chấp hành trong số lượng Ủy viên đã được Đại hội thông qua, Ban chấp hành được bầu bổ sung Ủy viên mới do Ban Thường vụ Hội giới thiệu.
4. Ban chấp hành có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Bầu cử, bãi miễn và bổ sung các chức danh lãnh đạo Hội: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Kiểm tra và Ủy viên Ban chấp hành.
- Quyết định các chương trình công tác hàng năm.
- Quyết định các biện pháp thực hiện Nghị quyết của Đại hội.
- Quy định các nguyên tắc, chế độ quản lý, sử dụng tài chính tài sản của Hội.
- Thông qua kế hoạch và quyết toán tài chính của nhiệm kỳ và hàng năm của Hội.
- Chuẩn bị nội dung, chương trình và các tài liệu trình Đại hội (kể cả Đại hội bất thường).
- Quyết định triệu tập Đại hội.