vanban.org

Điều 5. Nguyên tắc đấu giá quyền sử dụng đất: — Quyết định 11/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Quảng Bình Ban hành 28/04/2003 Hiệu lực 28/04/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 4 phiên bản · 23 năm
Quyết định số 27/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Bình · 27/2011/QĐ-UBND
Quyết định số 61/2005/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình ban hành · 61/2005/QĐ-UBND
Quyết định số 32/2003/QĐ-UB Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất · 32/2003/QĐ-UB
Quyết định số 11/2003/QĐ-UB Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất · 11/2003/QĐ-UB
26/05/200316/2003/QĐ-UBChưa hợp nhất 28/04/2003Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 11/2003/QĐ-UB › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Nguyên tắc đấu giá quyền sử dụng đất:

1. Việc đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp; công khai bằng hình thức bỏ phiếu kính và công bố kết quả ngay sau khi việc bỏ phiếu kết thúc. Người đấu giá ( đối với doanh nghiệp, tổ chức là người đại diện theo pháp luật ) phải trực tiếp tham gia phiên đấu giá. Trường hợp uỷ quyền cho người khác tham gia phiên đấu giá thì phải có giấy quyền hợp lệ theo quy định của pháp luật.

2. Hội đồng đấu giá chỉ xét chọn người trúng đấu trong số những phiếu đấu giá hợp lệ theo quy định sau:

+ Phiếu đấu giá phải ghi rõ họ tên người tham gia đấu giá và trùng với họ tên trong chứng minh nhân dân đã đăng ký với Hội đồng đấu giá. Trường hợp uỷ quyền phải ghi rõ họ tên trong chứng minh nhân dân của người uỷ quyền và người được uỷ quyền:

+ Số tiền ghi rõ trên phiếu đấu giá phải ghi mức giá cụ thể, rõ ràng bằng số và bằng chữ, không bị tẩy, xoá hoặc sai lệch giữa số tiền viết bằng số và viết bằng chữ;

+ Có mức giá ghi trong phiếu đấu giá cao hơn hoặc bằng mức giá tối thiểu của lô đất đấu giá.

3. Đối với mỗi lô đất việc đấu giá chỉ được tiến hành khi có ít nhất từ 02 người trở lên tham gia đấu giá. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất là người có phiếu đấu giá hợp lệ và có mức giá cao nhất trong số các phiếu đấu giá hợp lệ đối với lô đất đó.

Trường hợp có từ 02 người đấu giá trở lên có mức giá đấu cao nhất bằng nhau ( đối với mỗi lô đất ) thì phải tổ chức đấu giá tiếp giữa những người có mức giá cao nhất bằng nhau ( gọi là đấu giá lần 2 ) và giá tối thiểu của lô đất để đấu giá lần 2 là mức giá cao nhất  bằng nhau của những người tham gia đấu giá lần trước. Người đấu trúng là người có phiếu đấu giá hợp lệ và có mức cao nhất khi đấu giá lần 2.

4. Trong một phiên đấu giá, nếu có nhiều lô đất được đưa ra đấu giá thì việc đấu giá được tiến hành lần lượt từng lô một. Đối với mỗi lô đất, một người tham gia đấu giá chỉ được đưa một mức giá đấu. Một người có thể tham gia nhiều lô đất nhưng số lô đất trúng đấu không quá 02 lô.

5. Việc đấu giá lại lô đất đã đấu giá được tiến hành trong các trường hợp:

+ Người trúng đấu lô đất đó bỏ cuộc;

+ Kết quả đấu giá bị huỷ bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Quy chế này.