Điều 8. Đền bù giải tỏa mặt bằng
+ Việc xác định chi phí đền bù giải phóng mặt bằng phải thực hiện nghiêm chỉnh theo các quy định tại Nghị định 22/1998/NĐ-CP, ngày 24/4/1998 của Chính phủ và Quyết định số 1045/1998/QĐ-UB ngày 6/6/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh.
+ Trên cơ sở quyết định cho thuê đất và phương án đền bù giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt, UBND huyện, thị xã có trách nhiệm phối hợp với Sở Địa chính, Ban đền bù giải phóng mặt bằng (do UBND tỉnh ra Quyết định thành lập hoặc ủy quyền cho UBND huyện, thị xã ra quyết định thành lập theo yêu cầu cụ thể của từng dự án) và chủ đầu tư tiến hành đền bù giải phóng mặt bằng một cách nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện dự án. Thời gian tối đa cho việc giải phóng mặt bằng không quá 3 tháng. Kinh phí hoạt động của Ban đền bù giải phóng mặt bằng được tính trong chi phí đền bù giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã (phường, thị trấn) và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện (thị xã) phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh về công tác đền bù, tiến độ giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng cho thuê.