vanban.org

Điều 11. Đối với rừng tự nhiên có trữ lượng trung bình, dưới trung bình nhưng chưa đủ cường độ khai thác chính, rừng nghèo, rừng tái sinh sau nương rẫy: — Quyết định 106/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Gia Lai Ban hành 01/10/2003 Hiệu lực 01/10/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 106/2003/QĐ-UB › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Đối với rừng tự nhiên có trữ lượng trung bình, dưới trung bình nhưng chưa đủ cường độ khai thác chính, rừng nghèo, rừng tái sinh sau nương rẫy:

Sau khi được giao rừng bằng các biện pháp quản lý đầu tư tái tạo lại rừng, rừng đạt cường độ cho khai thác chính thì chính sách hưởng lợi cũng được thực hiện theo điều 18 Quyết định 178 của Thủ tướng Chính Phủ đã nêu trên.

Trong thời gian chưa khai thác chính, người nhận khoán rừng được hưởng lợi từ các nguồn sau đây:

+ Được thu hái tận dụng lâm sản phụ dưới tán rừng như: Bông đót, Bời lời, Chai cục, Song mây, Lồ ô, tre nứa… Quá trình khai thác, thu hái tiêu thụ phải tuân theo quy định hiện hành.

+ Được khai thác gỗ tận dụng, tận thu sản phẩm gỗ, củi, cành ngọn trong quá trình thực hiện biện pháp kỹ thuật lâm sinh, bài thải cây sâu bệnh, đổ ngã và tiêu thụ gỗ, lâm sản thực hiện theo quy trình quy phạm kỹ thuật và các qui định hiện hành.

Giá trị lấy ra ít nhất bằng mức khoán quản lý bảo vệ rừng: 50.000 đ/ha/năm, số lượng lấy ra cụ thể bao nhiêu do bàn bạc hai bên và bên giao là người quyết định cuối cùng.

+ Trong trường hợp rừng quá nghèo không thể lấy ra sản phẩm như nói ở trên, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, đề nghị UBND Tỉnh cấp hỗ trợ chi phí quản lý bảo vệ tái tạo rừng thông qua các Lâm trường và các Ban quản lý rừng phòng hộ trong thời gian rừng chưa đạt khai thác theo hợp đồng. Mức cấp 50.000 đ/ha/năm thời hạn không quá 5 năm và được hoàn trả lại khi khai thác chính từ rừng nhận khoán.

Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế và trừ các khoản ứng trước, chi phí sản xuất theo quy định được phân chia: bên nhận khoán hưởng từ 1,5 - 2% cho mỗi năm nhận khoán bảo vệ rừng và phát triển rừng, phần còn lại nộp bên giao khoán.