vanban.org

Điều 2. Về chế độ báo cáo: — Quyết định 1049/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 16/04/2003 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Thanh Hóa Ban hành 01/04/2003 Hiệu lực 16/04/2003 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1049/2003/QĐ-UB › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Về chế độ báo cáo:

Các đối tượng quy định tại Điều 1 phải lập và gửi cho Chủ tịch UBND tỉnh (qua Văn phòng UBND tỉnh) các báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề theo nội dung và thời hạn sau đây:

1- Báo cáo định kỳ bao gồm báo cáo tuần, tháng, 6 tháng đầu năm và báo cáo năm.

a- Báo cáo tuần phản ánh tiến độ thực hiện những chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu của sở, ban, ngành (sau đây gọi là ngành) huyện, thị xã, thành phố (sau đây gọi là huyện), những nhiệm vụ đột xuất, những sự kiện quan trọng, những kiến nghị khẩn cấp với UBND, Chủ tịch UBND tỉnh.

b- Báo cáo tháng được áp dụng đối với các tháng trong năm, trừ tháng 6 và tháng 12. Độ dài báo cáo tháng không quá 4 trang (khổ giấy A4, phông chữ Vntime, cỡ chữ 14), phản ánh ngắn gọn, súc tích những nội dung sau:

- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn của các ngành, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thu chi ngân sách Nhà nước của các huyện;

- Tình hình và kết quả thực hiện các quyết định quan trọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh thuộc trách nhiệm của ngành, huyện quản lý; tình hình chuẩn bị các Đề án trình UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh (đối với các ngành, huyện được giao nhiệm vụ); 

- Đối với các huyện, thị xã, thành phố, nếu trong tháng có kỳ họp của HĐND cấp huyện phải báo cáo nội dung các Nghị quyết của kỳ họp, chú ý nêu rõ sự phù hợp giữa Nghị quyết của HĐND với các chủ trương, chính sách, quyết định hiện hành của Trung ương và của tỉnh.

c- Báo cáo 6 tháng đầu năm không dài quá 9 trang khổ giấy A4, phông chữ Vntime, cỡ chữ 14, tập trung phản ánh những nội dung sau:

- Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch của ngành; nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thu chi ngân sách Nhà nước, quốc phòng an ninh của huyện; việc thực hiện những chương trình, đề án lớn, dự án trọng điểm được UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao chủ trì tổ chức thực hiện;

- Đánh giá việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của ngành và UBND huyện: nêu rõ những kết quả đạt được, những tồn tại thiếu sót, nguyên nhân tồn tại và biện pháp khắc phục;

- Xác định nhiệm vụ trọng tâm của ngành, huyện trong 6 tháng cuối năm và những giải pháp thực hiện; những kiến nghị với Chính Phủ, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh.

d- Báo cáo năm có độ dài và kết cấu nội dung như báo cáo 6 tháng đầu năm nhưng đánh giá, kiểm điểm tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong cả năm; đề ra nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện nhiệm vụ trong năm sau.

Thứ tự các hoạt động, lĩnh vực phản ánh trong báo cáo tháng, 6 tháng đầu năm và báo cáo năm của UBND các huyện quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này.

2- Báo cáo đột xuất: khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra những biến động bất thường về tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng thuộc trách nhiệm của ngành, huyện quản lý thì các ngành, huyện phải báo cáo kịp thời với Chủ tịch UBND tỉnh bằng phương tiện nhanh nhất. Báo cáo đột xuất phải nêu rõ tóm tắt tình hình diễn biến của sự việc, nguyên nhân phát sinh; những biện pháp đã áp dụng để khắc phục, phòng ngừa, kết quả giải quyết và những đề xuất, kiến nghị với UBND, Chủ tịch UBND tỉnh. Sự việc xảy ra đến đâu phải báo cáo ngay đến đó, không được đợi kết thúc hoặc giải quyết xong sự việc mới báo cáo.

3- Báo cáo chuyên đề là báo cáo chuyên sâu về một nhiệm vụ công tác, một vấn đề quan trọng (báo cáo thực hiện một chương trình, đề án, quyết định, chủ trương của cấp trên, nhiệm vụ công tác đặc biệt) theo yêu cầu của UBND, Chủ tịch UBND tỉnh. Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm thông báo yêu cầu về nội dung và thời gian báo cáo cho các ngành, huyện liên quan.

4- Ngoài những báo cáo nêu ở các Điều 2, Điều 3 và Điều 4, các ngành sau đây phải lập và gửi cho Chủ tịch UBND tỉnh các báo cáo tổng hợp về những lĩnh vực được giao, cụ thể:

- Cục thống kê báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và cả năm.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu kế hoạch 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và cả năm; đề xuất các giải pháp để thực hiện thắng lợi mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

- Sở tài chính - Vật giá báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và cả năm; đề xuất các giải pháp hoàn thành kế hoạch thu chi ngân sách của tỉnh.

- Sở Địa chính báo cáo tổng hợp tình hình quản lý đất đai, giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức và tình hình giải quyết tranh chấp đất đai 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và cả năm.

- Công an tỉnh báo cáo tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài sản Nhà nước 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và cả năm.

- Thanh tra tỉnh báo cáo tình hình, kết quả thanh tra, chống tham nhũng, tình hình giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân 6 tháng và cả năm.

- Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường báo cáo tình hình thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học từ cấp tỉnh trở lên; các phát minh, sáng kiến đã được kết luận, đưa vào ứng dụng trong sản xuất và đời sống và những vấn đề nổi cộm về môi trường 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và cả năm.

5- Thời gian và hình thức gửi báo cáo quy định như sau:

- Báo cáo tuần: phải gửi đến Văn phòng UBND tỉnh vào sáng ngày thứ 5 hàng tuần. Thời gian báo cáo tính từ ngày thứ 6 tuần trước đến thứ 5 tuần báo cáo.

- Báo cáo tháng: phải gửi đến Văn phòng UBND tỉnh trước ngày 20 hàng tháng; căn cứ vào tình hình thực tế của 20 ngày đầu tháng, các ngành, các huyện dự báo tình hình thực hiện cho những ngày còn lại của tháng để lập báo cáo. Thời hạn báo cáo đối với báo cáo 3 tháng và 9 tháng áp dụng như đối với báo cáo tháng.

- Báo cáo 6 tháng đầu năm: phải gửi đến Văn phòng UBND tỉnh trước ngày 10/6 hàng năm; căn cứ vào tình hình 5 tháng đầu năm và 10 ngày đầu tháng 6, các ngành, các huyện dự báo tình hình thực hiện cho số ngày còn lại của tháng 6 để lập báo cáo 6 tháng.

- Báo cáo năm: phải gửi đến Văn phòng UBND tỉnh trước ngày 5 tháng 12 hàng năm; căn cứ vào tình hình thực hiện 11 tháng đầu năm, các ngành, các huyện dự báo tình hình thực hiện tháng 12 để lập báo cáo cho cả năm.

Đối với báo cáo tuần, các ngành, huyện gửi về Văn phòng UBND tỉnh qua mạng tin học diện rộng của UBND tỉnh hoặc qua Fax (nếu không gửi được qua mạng). Đối với các loại báo cáo khác, sau khi được ký ban hành, các ngành, huyện gửi ngay qua mạng tin học diện rộng của UBND tỉnh, hoặc Fax (nếu không gửi được qua mạng) về Văn phòng UBND tỉnh và gửi 2 bản theo đường công văn. 

6- Thẩm quyền ký báo cáo:

- Báo cáo năm phải do Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố ký (trường hợp Giám đốc hoặc Chủ tịch đi vắng lâu ngày do Phó giám đốc hoặc Phó chủ tịch thường trực ký thay).

- Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố uỷ quyền cho Trưởng phòng hành chính tổng hợp các sở, ban, ngành, Chánh văn phòng UBND các huyện, thị xã, thành phố ký các báo cáo tuần, báo cáo đột xuất.

- Đối với các loại báo cáo khác, Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố có thể uỷ quyền cho cấp phó ký thay.