Điều 11.
1- Mức đền bù đối với cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước, tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ ( tính theo sản lượng thu hoạch bình quân của 3 vụ trước đó) và giá nông sản, thủy sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.
Đơn giá đền bù tại biểu số 4 ban hành kèm theo quyết định này.
2- Mức đền bù đối với cây lâu năm:
a) Nếu cây trồng đang ở thời kỳ sinh trưởng hoặc mới bắt đầu thu hoạch thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu, chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.
b) Nếu cây trồng đang ở thời kỳ thu hoạch thì đền bù theo giá trị còn lại của vườn cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá trị đầu tư ban đầu cộng chi phí chăm sóc đến vụ thu hoạch đầu tiên, trừ phần đã khấu hao. Trong trường hợp không xác định được giá trị còn lại của vườn cây thì mức đền bù tối đa bằng 2 năm sản lượng ( tính theo sản lượng bình quân của 3 năm trước đó) và theo giá của nông sản cùng loại ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.
c) Nếu là các loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc tính đến thời điểm thu hồi đất.
d) Nếu là cây lâu năm đến thời hạn thành lý thì chỉ đền bù chi phí cho việc chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây.
Đối với cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước và các loại cây trồng trên đất không hợp pháp thì người trồng phải tự thu hồi giải tỏa theo yêu cầu của Nhà nước.
Đối với cây bóng mát, cây ăn quả, cây lấy gỗ trồng trên vỉa hè, hành lang giao thông khi thực hiện NĐ36/CP chưa xử lý; này mở rộng đường hoặc làm các công trình kỹ thuật như cấp thoát nước, điện sinh hoạt, thông tin … thì không đền bù về giá trị, nhưng có thể hỗ trợ chi phí chặt hạ khi cần thiết.