Điều 1. Phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo với các nội dung chủ yếu sau
I. MỤC TIÊU
1. Phổ cập, cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông, phát thanh, truyền hình đa dạng, chất lượng cao cho các vùng biển, đảo của Việt Nam.
2. Mở rộng vùng phủ sóng phát thanh, truyền hình trên các vùng biển, đảo của Việt Nam và ra quốc tế nhằm đảm bảo cung cấp cho mọi người dân các dịch vụ phát thanh, truyền hình đa dạng, phong phú, đồng thời đáp ứng yêu cầu thông tin, tuyên truyền, đối ngoại của Đảng, Nhà nước.
3. Tiếp tục thực hiện các mục tiêu đã đề ra tại Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển.
II. CHỈ TIÊU
1. Đến năm 2015, phủ sóng di động hầu hết các đảo có người dân sinh sống thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đối với các tỉnh ven biển, các doanh nghiệp viễn thông phấn đấu phủ sóng di động ra ngoài biển cách bờ trên 50 km; Đối với các đảo có người dân sinh sống, các doanh nghiệp viễn thông xây dựng các trạm thu phát sóng công suất lớn phủ sóng khu vực trên đảo và ra ngoài biển.
2. Đến năm 2015, hầu hết các đảo có người dân sinh sống được cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet phục vụ phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh, quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn.
3. Đến năm 2015, 100% người dân sống trên các đảo thu được các chương trình phát thanh, truyền hình.
III. PHẠM VI
1. Tiếp tục nâng cấp và đầu tư mới các hệ thống thông tin công cộng trên biển và các đảo có người dân sinh sống đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.
2. Nâng cấp các hệ thống phát thanh, truyền hình phục vụ thông tin biển, đảo.
3. Nâng cấp các hệ thống thông tin chuyên ngành phục vụ phát triển kinh tế biển và mạng lưới thông tin duyên hải đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển.
4. Thời gian thực hiện Đề án: từ năm 2010 đến năm 2015.
IV. NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN
1. Tận dụng và phát huy hiệu quả của hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới bưu chính, viễn thông, phát thanh, truyền hình sẵn có.
2. Áp dụng tối đa ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong xây dựng và phát triển mạng lưới bưu chính, viễn thông, Internet và phát thanh, truyền hình phục vụ thông tin vùng biển, đảo.
3. Ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật hệ thống thông tin liên lạc trên bờ và trên đảo để đảm bảo chất lượng và làm giảm chi phí đầu tư cho các hệ thống trên biển.
4. Việc đầu tư phải bảo đảm đồng bộ giữa các Bộ, ngành nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế kết hợp với phục vụ an ninh quốc phòng.
5. Tiếp tục thực hiện các nguyên tắc đã đề ra tại Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển.
V. NỘI DUNG
1. Nâng cấp hạ tầng mạng lưới thông tin công cộng phục vụ nhu cầu thông tin đa dạng cho khu vực biển và đảo.
Tận dụng cơ sở hạ tầng, phương tiện hiện có, xây dựng và tăng tần suất các tuyến đường thư, báo đến các đảo, đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và người dân.
Phát triển các điểm truy cập công cộng tại các đảo nhằm cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và truy cập Internet. Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông cho các đảo có người dân sinh sống, bao gồm việc xây dựng các tổng đài điện thoại cố định, hệ thống truy cập Internet và hệ thống các trạm truy cập vệ tinh nhằm đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi thời tiết.
Kết hợp các phương thức truyền dẫn sẵn có xây dựng mạng truyền dẫn tới các đảo đảm bảo cung cấp đủ dung lượng đường truyền phục vụ cho dịch vụ viễn thông và Internet. Đối với các đảo đông dân có nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông cao, xây dựng các tuyến viba dung lượng lớn hoặc cáp quang biển làm đường truyền kết nối với đất liền; đối với các đảo xa đất liền, sử dụng phương thức thông tin vệ tinh.
Xây dựng hệ thống trạm thông tin di động ven biển, phấn đấu phủ sóng hướng ra biển cách bờ trên 50 km và các trạm thông tin di động công suất lớn trên các đảo đảm bảo cho các tàu, thuyền hoạt động xung quanh khu vực các đảo này có thể sử dụng được dịch vụ thông tin di động.
Phấn đấu xây dựng mạng truy nhập băng rộng tại vùng biển ven bờ và trên các đảo phục vụ nhu cầu các ứng dụng đa dạng cho hàng hải, đóng tàu, ngư nghiệp, khai thác tài nguyên khoáng sản…
2. Mở rộng vùng phủ sóng phát thanh, truyền hình phục vụ thông tin biển, đảo.
Tận dụng tối đa nguồn lực có sẵn để tăng cường chất lượng vùng phủ sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tại Biển Đông.
Tiếp tục triển khai các trạm phát thanh ven biển theo dự án “Phủ sóng Biển Đông” nhằm tăng cường phủ sóng mạnh, ổn định, liên tục và chất lượng cao tại các vùng biển có hoạt động kinh tế của Việt Nam.
Kết hợp các phương thức truyền dẫn và phát sóng phát thanh, đầu tư và nâng cấp hệ thống phát sóng đối nội nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả và chất lượng phủ sóng. Sử dụng các đài phát sóng đối ngoại, phát thông tin dự báo thời tiết, thông tin tìm kiếm cứu nạn để hỗ trợ cho ngư dân đánh bắt xa bờ.
Tổ chức các trạm truyền thanh tại mỗi đảo, thu nhận thông tin từ các đài phát thanh đất liền và phát lại nhằm đảm bảo thông tin đến với người dân trên đảo và các tàu thuyền đánh bắt hải sản trong khu vực lân cận kịp thời, chính xác.
Phối hợp các đài phát thanh, truyền hình địa phương ven biển để hỗ trợ khai thác, sử dụng các đài phát thanh phát sóng phát thanh địa phương nhằm mở rộng diện phủ sóng quốc gia trên Biển Đông và các khu vực còn lõm sóng.
Kết hợp việc truyền dẫn phát sóng truyền hình qua vệ tinh với các trạm phát lại có công suất phù hợp và sử dụng đầu thu số vệ tinh để đưa các chương trình truyền hình tới người dân trên tất cả các đảo.
Tại các nơi có điều kiện, triển khai hệ thống truyền hình cáp theo hướng tăng cường cáp sợi quang và nâng cao tỷ lệ cáp ngầm để bảo đảm chất lượng và tránh ảnh hưởng bởi thời tiết.
Tận dụng tối đa các phương thức thông tin vệ tinh, đặc biệt là sử dụng vệ tinh Vinasat-1 để phủ sóng phát thanh, truyền hình tới đại đa số người dân khai thác trên vùng biển, đảo trong nước và vùng biển quốc tế các dịch vụ phát thanh, truyền hình đa dạng, phong phú, đồng thời đáp ứng yêu cầu thông tin, tuyên truyền, đối ngoại của Đảng, Nhà nước.
3. Đảm bảo hạ tầng mạng thông tin chuyên ngành phục vụ phát triển kinh tế vùng biển
Phát triển hệ thống thông tin liên lạc trên các phương tiện nổi, các công trình cố định trên biển theo hướng nâng cao dung lượng, chất lượng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Triển khai các trạm truy nhập thông tin vệ tinh băng rộng, xây dựng các trạm thu phát sóng thông tin di động kết hợp với sử dụng phương thức liên lạc vệ tinh trên các phương tiện nổi và công trình cố định trên biển, góp phần nâng cao chất lượng thông tin liên lạc phục vụ phát triển kinh tế vùng biển.
Xây dựng hệ thống mạng chuyên dụng trên cơ sở mạng công cộng, cung cấp kết nối băng rộng phục vụ cho mục tiêu bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển và sự điều hành của các cơ quan chính quyền trên đảo.
4. Tăng cường năng lực mạng lưới thông tin duyên hải đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển.
Tiếp tục thực hiện các nội dung đã đề ra tại Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển.
VI. CÁC GIẢI PHÁP
1. Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền
a) Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân ý thức sử dụng hệ thống thông tin liên lạc đảm bảo an toàn theo quy định hiện hành. Nâng cao ý thức của người dân đối với trách nhiệm thông báo thông tin phục vụ cho công tác tìm kiếm cứu nạn;
b) Nâng cao sự nhận thức, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển thông tin biển, đảo cho mọi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động trên vùng biển, đảo;
c) Tuyên truyền công nghệ mới trong thông tin liên lạc biển, đảo cho xã hội và người dân đặc biệt là các công nghệ định vị, nhận dạng.
2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật
a) Hoàn thiện các cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông, các đơn vị truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình bình đẳng trong việc tham gia cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông, phát thanh, truyền hình phục vụ an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn và phát triển kinh tế biển:
- Xây dựng và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch về bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, phát thanh, truyền hình … nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý để thúc đẩy phát triển mạng lưới thông tin biển, đảo.
- Xây dựng cơ chế và chính sách để Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông, các đơn vị truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình nhằm cung cấp các dịch vụ thông tin liên lạc cho vùng biển, đảo đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng. Xây dựng cơ chế hỗ trợ giá cước và hỗ trợ thiết bị đầu cuối cho ngư dân đảm bảo thông tin liên lạc với đất liền.
- Nghiên cứu, xây dựng cơ chế quản lý đối với các hệ thống thiết bị thông tin trên bờ hiện có (của các đơn vị chủ tàu, người nhà …) để đảm bảo không gây can nhiễu tới các hệ thống thông tin khác.
b) Xây dựng cơ chế, chính sách bảo vệ quyền lợi người sử dụng trên cơ sở đảm bảo thực hiện đúng các quy định về quản lý tiêu chuẩn, chất lượng và giá cước.
3. Phát triển nguồn lực
a) Chính sách huy động vốn đầu tư:
- Đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mạng thông tin liên lạc biển, đảo phục vụ nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao, ưu tiên sử dụng vốn ngân sách nhà nước, Quỹ dịch vụ viễn thông công ích, vốn viện trợ và cho vay ưu đãi từ nước ngoài để đầu tư xây dựng.
- Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc biển, đảo phục vụ hoạt động kinh tế, sử dụng nguồn vốn từ doanh nghiệp, xã hội để đầu tư xây dựng và được nhà nước ưu đãi cơ chế và một phần kinh phí.
- Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp về vốn, công nghệ … để triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mạng thông tin liên lạc biển, đảo.
b) Chính sách về thuế:
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế đối với chuyển giao công nghệ, nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp các trang thiết bị thông tin phục vụ thông tin biển, đảo, để tạo điều kiện giảm mạnh giá bán thiết bị đầu cuối nhằm giúp cho ngư dân và người sử dụng có thể mua được các thiết bị đầu cuối với giá cả phù hợp.
c) Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực:
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ vận hành thiết bị thông tin liên lạc, cập nhật các công nghệ mới thông qua các khóa đào tạo nghiệp vụ thông tin liên lạc cho các tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị liên quan; tổ chức các khóa đào tạo hướng dẫn sử dụng thiết bị thông tin liên lạc cho ngư dân, người sử dụng có các hoạt động trên biển.
- Đẩy mạnh việc xã hội hóa đào tạo và đào tạo lại đội ngũ kỹ thuật viên, thợ lành nghề, thuyền viên, ngư dân để đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực thông tin liên lạc biển, đảo.
4. Nghiên cứu đổi mới công nghệ
a) Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ thông tin liên lạc biển, đảo, quản lý vị trí, ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tàu, thuyền, phương tiện;
b) Khuyến khích việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại phục vụ thông tin liên lạc biển, đảo;
c) Nhanh chóng xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho các loại công nghệ thông tin liên lạc mới cho biển, đảo như: công nghệ nhận dạng, công nghệ định vị, truy tìm vị trí, công nghệ thông tin liên lạc 2 chiều bằng sóng HF …;
d) Nghiên cứu các phương thức sử dụng hiệu quả hệ thống thông tin di động, nhằm tăng cường vùng phủ sóng vùng biển, đảo.
5. Tăng cường hợp tác quốc tế:
a) Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và các quốc gia ven biển, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực trong lĩnh vực phát triển thông tin liên lạc trên biển, đảo nhằm thúc đẩy việc phát triển kinh tế biển đồng thời góp phần bảo đảm an toàn, an ninh trên biển; phối hợp với các tổ chức trong việc trao đổi, đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật và quản lý thông tin biển, đảo.
b) Tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình, đề án, dự án và các thỏa thuận quốc tế về thông tin liên lạc biển, đảo và đại dương sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
c) Tham gia đàm phán về các điều ước, thỏa thuận quốc tế và khu vực về thông tin liên lạc vùng biển, đảo đảm bảo quyền lợi của Việt Nam trên biển;
d) Tranh thủ sự hợp tác quốc tế để huy động các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA, nhằm phát triển mạng lưới thông tin liên lạc vùng biển, đảo.