Điều 4. Nguyên tắc phối hợp
1. Bảo đảm thống nhất công tác quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình từ cấp tỉnh đến cấp xã; sự tham gia tích cực của các cơ quan liên quan nhằm góp phần thực hiện hiệu quả công tác này.
2. Hoạt động phối hợp liên ngành dựa trên cơ sở thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước đối với công tác phòng, chống bạo lực gia đình và trên cơ sở phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định.
3. Quan tâm đến mối quan hệ gắn kết giữa Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15 với các luật có liên quan như: Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13, Bộ Luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật số 86/2025/QH15, Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13, Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11, Luật Phòng, chống mua bán người số 53/2024/QH15, Luật Trẻ em số 102/2016/QH13, Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12.
4. Quy định rõ nội dung, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong mối quan hệ phối hợp nhằm phát huy tính hiệu quả, hiệu lực của việc triển khai thi hành Luật số 13/2022/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
5. Công tác phối hợp phải dựa trên nguyên tắc đánh giá và chia sẻ kinh nghiệm bằng kết quả thực tiễn; tăng cường việc thu thập dữ liệu có chất lượng cao nhằm hỗ trợ việc chia sẻ thông tin chính xác để xây dựng chính sách, quyết định, chương trình hành động, kế hoạch dựa trên thực tế.
6. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý điều hành thống nhất của chính quyền; sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức.
7. Cùng phối hợp bàn giải pháp và giải quyết các vấn đề phát sinh trên cơ sở kinh nghiệm và nguồn lực của các ban, ngành, tổ chức liên quan.
8. Tranh thủ sự hợp tác và giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm phát huy tối đa các nguồn lực phục vụ hiệu quả công tác phối hợp trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình.