Điều 4. Tổ chức Đội dân phòng
1- Ở mỗi khu vực dân cư thuộc phường và mỗi thôn thuộc xã
được thành lập một đội dân phòng bao gồm: Đội trưởng, một
hoặc hai đội phó và các đội viên;
2- Đội trưởng:
a) Ở khu vực dân cư thuộc phường do Phó ban bảo vệ dân phố và ở thôn thuộc xã do Phó trưởng ban Ban nhân dân thôn phụ trách công tác an ninh trực tiếp làm đội trưởng;
b) Đội trưởng Đội dân phòng chịu trách nhiệm trước UBND xã, phường trong việc tổ chức, điều hành hoạt động của Đội; nắm vững tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT; thường xuyên báo cáo ƯBND, Công an xã, phường, Ban nhân dân thôn, Ban bảo vệ dân phố;
3- Đội phó: Do các đội viên trong đội chọn cử.
Đội phó Đội dân phòng giúp Đội trưởng theo dõi tể chức thực hiện nhiệm vụ được giao cho Đội; thay mặt Đội trưởng chủ trì các buổi họp của đội, điều hành giải quyết công việc của đội khi Đội trưởng vắng mặt;
4- Mỗi Đội dân phòng có từ 15 đến 20 đội viên;
5- Các đội viên Đội dân phòng phải là người có độ tuổi từ 13 đến 45, cư trú hợp pháp thường xuyên trong khu vực thuộc xã, phường, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, tự nguyện tham gia cêng tác dân phòng và được nhân dân trong khu vực giới thiệu.