vanban.org

Điều 3: — Quyết định 102/2002/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2003 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2003 Thay thế: 160/2002/QĐ-UB · 27/12/2002
Đà Nẵng Ban hành 24/09/2002 Hiệu lực 29/09/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 24 năm
Quyết định số 160/2002/QĐ-UB Ban hành Quy định về xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữư nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định 60/CP của Chính phủ · 160/2002/QĐ-UB
Quyết định số 102/2002/QĐ-UB Về giải quyết một số vướng mắc trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở · 102/2002/QĐ-UB
01/01/2003160/2002/QĐ-UBThay thế Đang xem 29/09/2002Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 102/2002/QĐ-UB › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3:

1. Trường hợp nhà đất có nguồn gốc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (kể cả cơ quan quân đội) bán hóa giá nhà đã được cấp Giấy chứng nhận với diện tích đất ở được công nhận là 100m2, nay chủ hộ có nhu cầu đổi giấy chứng nhận thì được căn cứ vào hồ sơ gốc để tính và thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm 3 điều 9 Quyết định số 80/2001/QĐ-UB ngày 15 tháng 6 năm 2001 của UBND thành phố nhưng không quá hạn mức đất ở quy định đối với từng phường, xã;

2. Nhà, đất có nguồn gốc do UBND huyện Hòa Vang cấp trước hoặc sau ngày 15 tháng 10 năm 1993 bị thu hồi theo Thông báo số 170/TB-UB ngày 11 tháng 7 năm 1995 của UBND tỉnh QN-ĐN (cũ) và Quyết định số 3572/QĐ-UB ngày 23 tháng 6 năm 1998 của UBND thành phố Đà Nẵng và đất có nguồn gốc do UBND thành phố Đà Nẵng (cũ) cấp trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 đã bị thu hồi nhưng đã được cấp Trích lục sổ nghiệp chủ nhà ở thì Trích lục nghiệp chủ nhà ở được coi là không có giá trị pháp lý để xét cấp Giấy chứng nhận. Các trường hợp này khi xét cấp Giấy chứng nhận thì căn cứ vào thời điểm quyết định cắp nhà, đất hoặc hồ sơ gốc để tính và thu tiền sử dụng đất.

3. Trường hợp nhà, đất có nguồn gốc do UBND huyện Hòa Vang cấp đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 nếu có chứng từ nộp tiền ghi nội dung thu là thu tiền sử dụng đất hoặc cấp quyền sử dụng đất do phòng Tài chính huyện Hòa Vang phát hành thì được coi là hợp lệ. Không công nhận xác nhận của phòng Tài chính huyện Hòa Vang về việc đã nộp tiền sử dụng đất khi giao đất xây dựng nhà ở theo Quyết định của UBND huyện Hòa Vang. trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất thì được giải quyết như sau:

a) Trường hợp được UBND huyện Hòa Vang cấp đất làm nhà ở thì nộp 100% tiền sử dụng đất;

b) Trường hợp nhà, đất do chuyển nhượng mà có, sau đó được UBND huyện Hòa Vang ra Quyết định cấp đất làm nhà ở thì được căn cứ vào hồ sơ gốc chứng minh nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất để thu tiền sử dụng đất;

4. Các trường hợp nhà ở, đất ở sử dụng từ trưỏc ngày 18 tháng 12 năm 1980 đã được cấp Trích lục sổ nghiệp chủ nhà ở trước ngày 05 tháng 7 năm 1994 có phần diện tích nhà xây dựng lớn hơn hạn mức đất ở theo quy định của thành phố thì được công nhận phần diện tích đất dưới nền nhà thể hiện trong trích lục sổ nghiệp chủ nhà ở là hợp lệ nhưng không quá hai lần hạn mức đất ở; phần diện tích đất còn lại (không trừ 10% sai số) phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo quy định.

5. Trường hợp đất ở có nguồn gốc do UBND thành phố Đà Nẵng (cũ) cấp đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà có tên trong danh sách được công nhận là đúng đối tượng cấp đất tại Quyết định số 179/QĐ-UB ngày 14 tháng 02 năm 1995; các trường hợp không có tên trong Quyết định trên hoặc không có tên trong danh sách bị thu hồi đất của UBND tỉnh QN-ĐN (cũ) khi xét cấp Giấy chứng nhận được công nhận diện tích đất cấp là hợp lệ. Phần diện tích đất còn lại ngoài Quyết định cấp đất nhưng trong hạn mức đất ở theo quy định thì phải nộp 40% tiền sử dụng đất; ngoài hạn mức đất ở thì phải nộp 100% tiền sử dụng đất.

6. Đối với các trường hợp nhà, đất có nguồn gốc do chuyển nhượng đất có mục đích sử dụng đất không phải là đất ở tại các phường Hòa Hải, Hòa Quý, Hòa Minh, Hòa Khánh và Hòa Hiệp nay phù hợp với quy hoạch thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận sau khi đã chấp hành xong quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

7. Đối với các hồ sơ thuộc diện công nhận hai lần hạn mức đất ở theo quy định tại Điều 6 Quyết định số 80/2001/QĐ-UB ngày 15 tháng 6 năm 2001 của UBND thành phố thì giao Sở Địa chính - Nhà đất tổng hợp báo cáo, đề xuất Chủ tịch UBND thành phố xem xét quyết định từng trường hợp.