Điều 4. Quy định hòm công đức, phiếu công đức
1. Hòm công đức
a) Đơn vị được giao quản lý di tích căn cứ vào tình hình thực tế, quyết định số lượng hòm công đức tại các di tích nhưng mỗi di tích không quá 3 hòm. Trường hợp có nhu cầu đặt thêm hòm công đức phải báo cáo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định.
b) Hòm công đức phải đảm bảo an toàn, chắc chắn, có tính thẩm mỹ và phù hợp với di tích, được niêm phong và sử dụng 2 loại khóa, 1 khóa giao cho đại diện đơn vị được giao quản lý di tích, 1 khóa giao cho Trưởng ban quản lý di tích hoặc ủy quyền Phó ban thường trực nắm giữ.
2. Mở hòm công đức
Việc mở hòm công đức do đơn vị quản lý di tích quyết định nhưng tuân thủ theo quy định sau:
a) Đối với di tích có nguồn công đức lớn, mỗi lần mở hòm công đức phải có các thành viên Tổ giám sát (được quy định tại Điều 11 Quy định này) để kiểm tra, giám sát. Số lượng thành viên đại diện Tổ giám sát phải có mặt trên 2/3 số thành viên;
b) Việc kiểm đếm phải được công khai, minh bạch, sau khi kiểm đếm phải có biên bản ghi rõ số tiền thu được, xác nhận của các thành viên tham gia kiểm đếm;
c) Biên bản kiểm đếm phải có dấu giáp lai của đơn vị quản lý di tích, chia thành 3 bản: Ban quản lý di tích giữ 01 bản; Đơn vị quản lý di tích giữ 01 bản; 01 bản gửi cơ quan quản lý văn hoá cùng cấp để tổng hợp, kiểm tra, theo dõi.
3. Phiếu công đức
a) Phiếu công đức là hình thức ghi nhận công đức do đơn vị được giao quản lý di tích quy định mẫu phiếu và phát hành;
b) Phiếu công đức phải có số xêri và đóng dấu giáp lai của đơn vị quản lý di tích. Trường hợp Ban quản lý di tích có tư cách pháp nhân nếu đóng dấu giáp lai của Ban vào phiếu công đức phải được đơn vị quản lý di tích ủy quyền bằng văn bản;
d) Ban/Đơn vị được giao quản lý di tích có trách nhiệm kiểm soát số lượng phiếu công đức phát hành theo số xeri trên phiếu công đức.