Điều 5. Đo đạc và thành lập các loại bản đồ
1. Cơ sở toán học
a) Bản đồ được lập ở các tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000 trên mặt phẳng chiếu hình, ở múi chiếu 3 độ, kinh tuyến trục 106 độ (tỉnh Hòa Bình), hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 và hệ độ cao quốc gia hiện hành.
b) Lưới tọa độ vuông góc trên bản đồ địa chính được thiết lập với khoảng cách 10 cm trên mảnh bản đồ địa chính tạo thành các giao điểm, được thể hiện bằng các dấu chữ thập (+).
c) Thông số hệ quy chiếu và hệ tọa độ
Thông số hệ quy chiếu và hệ tọa độ để lập bản đồ địa chính thực hiện theo quy định tại Thông tư số 973/2001/TT-TCDC ngày 20/6/2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000.
2. Tỷ lệ bản đồ
a) Việc lựa chọn tỷ lệ bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng, bản đồ chuyên đề căn cứ theo yêu công việc cụ thể.
b) Trích lục, trích đo bản đồ địa chính:
- Trích lục bản đồ địa chính (BDDC): tỷ lệ của bản trích lục bản đồ địa chính bằng đúng tỷ lệ của BDDC đang quản lý, sử dụng; trường hợp cần thiết thì có thể biên tập ở tỷ lệ lớn hơn hoặc nhỏ hơn của BDDC nhưng phải đảm bảo theo các tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1.000, 1:2.000, 1:5.000 và 1:10.000.
- Trích đo địa chính:
+ Khu vực đất phi nông nghiệp: tỷ lệ 1:500 đối với đất đô thị; tỷ lệ 1:1.000, 1:2.000 đối với các khu vực khác.
+ Khu vực đất Nông nghiệp: tỷ lệ 1:1.000.
+ Khu vực đất lâm nghiệp: tỷ lệ 1:5.000 và 1:10.000.
c) Chia mảnh bản đồ được lập theo khổ A3, A2, A1, A0. Việc lựa chọn khổ giấy sao cho các góc khung có giá trị tọa độ chẵn và trong một dự án chỉ có một loại khổ giấy.
3. Nội dung bản đồ
a) Đo đạc, thành lập và biên tập nội dung bản đồ địa hình, bản đồ nền địa lý, bản đồ địa chính và các loại bản đồ chuyên đề thực hiện theo các quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ, Cơ quan chuyên ngành.
b) Đo đạc thành lập, biên tập bản đồ trích đo địa chính
Nội dung trình bày bản đồ đối với các sản phẩm trích đo địa chính, đo đạc chính lý, bổ sung, đo vẽ lại bản đồ địa chính theo quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Chủ sử dụng đất (hoặc chủ đầu tư), địa điểm, ranh giới các thửa đất, loại đất; các chỉ giới về quy hoạch; ranh giới sử dụng đất theo các quyết định giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu có).
Đối với trường hợp đo đạc chính lý bản đồ địa chính để phục vụ đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bồi thường, giải phóng mặt bằng; đấu giá quyền sử dụng đất và mục đích quản lý đất đai khác thì phải đo vẽ trọn thửa cần chính lý để thực hiện cập nhật, chính lý hồ sơ, bản đồ địa chính.
c) Bản đồ hiện trạng nhằm phục vụ cho các mục đích: Xin cấp chỉ giới quy hoạch, lập quy hoạch tổng mặt bằng, quy hoạch khu vực đô thị, khu vực phát triển đô thị, khu chức năng đặc thù, khu vực cần lập quy hoạch phân khu và quy hoạch xây dựng nông thôn được sử dụng bản đồ cơ sở nền địa lý, bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ lớn bao gồm 1:2.000, 1:5.000 và 1:10.000 do Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp. Trường hợp bản đồ cần lập ở tỷ lệ lớn hơn hoặc nhỏ hơn thì đo đạc bổ sung hoặc biên tập tổng quát hóa trên bản đồ cơ sở nền địa lý, bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1:2.000, 1:5.000 và 1:10.000.
Quy trình, nội dung đo đạc, thành lập, biên tập bản đồ hiện trạng theo quy định về thành lập bản đồ địa hình, bản đồ nền địa lý và bản đồ địa chính. Để đảm bảo cho việc khớp nối hạ tầng kỹ thuật của dự án với khu vực xung quanh dự án, phạm vi đo vẽ phải rộng hơn so với ranh giới khu đất cần nghiên cứu tối thiểu 20m. Đối với các tuyến điện cao thế, trục đường giao thông phải đo rộng hơn so với ranh giới nghiên cứu ít nhất là 30m. Đáng đạt được thể hiện trên bản đồ bằng điểm ghi chú độ cao thì mật độ phân bố đều không dưới 10 điểm/1 dm² trên bản đồ.
d) Biên tập bản đồ:
Ký hiệu và phân lớp được quy định tại các quy định ký hiệu bản đồ hiện hành; các ký hiệu cho công trình ngầm chưa được quy định cụ thể cần ghi chú rõ trên bản đồ, các lớp đối tượng công trình ngầm chưa có quy định cụ thể cần được phân lớp theo nhóm đối tượng có cùng tính chất, công dụng.