Điều 11. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh
1. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên tỉnh có trách nhiệm nắm, tiếp nhận và tổng hợp tình hình hoạt động tàu cá trên biển, phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ tàu cá, an ninh trên biển.
2. Chỉ đạo cho các đồn Biên phòng duy trì chế độ trực canh thông tin liên lạc hàng ngày theo Khoản 1, Điều 6 Quy chế này, nắm thông tin tàu cá hoạt động trên biển, kịp thời xử lý các tình huống sự cố xảy ra trên biển.
3. Chỉ đạo các đồn Biên phòng tuyến biển, đảo trong quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động của các phương tiện nghề cá khi ra vào cảng biển, cửa lạch, tiến hành kết hợp kiểm tra giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với các phương tiện nghề cá phải trang bị máy thông tin liên lạc tầm xa HF theo quy định.
4. Kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm, hướng dẫn các chủ tàu cá chưa có Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện liên hệ Sở Thông tin và Truyền thông, Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực III để thực hiện các thủ tục cấp Giấy phép theo quy định; đối với tàu cá đánh bắt xa bờ có công suất 90 CV trở lên chỉ được xuất bến khi tàu có trang bị máy thông tin liên lạc tầm xa HF và có Giấy phép sử dụng tần số.
5. Khi có bão, áp thấp nhiệt đới và thời tiết nguy hiểm
a) Duy trì chế độ trực canh thông tin liên lạc 24/24 giờ Đài thông tin Bộ đội Biên phòng để liên lạc và nắm thông tin về tình hình hoạt động tàu cá và an ninh trên biển; hướng dẫn tàu tránh trú bão, tham gia cứu nạn, cứu hộ trên biển.
b) Nhanh chóng thống kê tình hình, số lượng tàu cá, lao động đang hoạt động trên biển báo cáo cho Ban Chỉ huy Phòng, chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh; thông báo cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để phối hợp quản lý.
c) Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền các địa phương và các đơn vị có liên quan hướng dẫn, điều động tàu cá đến nơi trú ẩn an toàn.
6. Xử lý các tàu cá không thực hiện đúng theo Quy chế này và các quy định khác của pháp luật về quản lý thông tin liên lạc tàu cá hoạt động trên biển.