vanban.org

Điều 4. Cơ chế phối hợp giải quyết công việc giữa Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh với các cơ quan có liên quan — Quyết định 10/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/12/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 19/12/2015
Gia Lai Ban hành 18/05/2011 Hiệu lực 28/05/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy định cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa các cơ quan trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và quản lý hồ sơ trên địa bàn tỉnh Gia Lai · 10/2011/QĐ-UBND
19/12/201537/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 28/05/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 10/2011/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Cơ chế phối hợp giải quyết công việc giữa Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh với các cơ quan có liên quan

1. Phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh với Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ban quản lý Khu kinh tế:

a) Trong quá trình kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, trường hợp cần thiết phải xác minh thêm thông tin về điều kiện chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh gửi phiếu lấy ý kiến đến Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ban quản lý khu kinh tế.

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phiếu lấy ý kiến của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh thì Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ban quản lý khu kinh tế có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh.

c) Định kỳ hàng tháng, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh có trách nhiệm gửi bản sao (đóng dấu của Văn phòng) đối với Giấy chứng nhận có nội dung chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng, rừng sản xuất là rừng trồng và gửi cho Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ban quản lý khu kinh tế để theo dõi, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước của từng ngành.

2. Phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh với các phòng chuyên môn của Sở Tài nguyên và Môi trường:

a) Trong quá trình thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận nếu cần phải xác định đơn giá tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và tiền chuyển mục đích sử dụng đất thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh gửi phiếu chuyển thông tin địa chính đến các phòng chuyên môn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phiếu chuyển thông tin địa chính của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh thì các phòng chuyên môn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xác định đơn giá cho thuê đất, tiền sử dụng đất, tiền chuyển mục đích sử dụng đất và chuyển lại cho Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh.

c) Định kỳ 6 tháng, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh và các phòng chuyên môn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường phải thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số hồ sơ về nghĩa vụ tài chính đã giao, đã nhận để phát hiện các trường hợp còn tồn đọng. Trong số hồ sơ còn tồn đọng chưa giải quyết thì hai bên phối hợp để làm rõ nguyên nhân tồn đọng của từng hồ sơ và đề ra phương án trình lãnh đạo Sở xử lý.

3. Phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh với Cục Thuế, Chi cục Thuế:

a) Trong quá trình thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận nếu cần phải xác định nghĩa vụ tài chính để người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện nghĩa vụ thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh gửi phiếu chuyển thông tin địa chính đến cơ quan thuế có liên quan.

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phiếu chuyển thông tin địa chính của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh thì Cục Thuế, Chi cục Thuế có trách nhiệm xác định nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất phải nộp và chuyển lại cho Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh.

c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp các khoản nghĩa vụ tài chính do cơ quan thuế chuyển đến, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh có trách nhiệm thông báo cho người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất đến nhận “Thông báo nộp tiền” để thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

d) Định kỳ 6 tháng, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh và Cục Thuế, Chi cục Thuế phải thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số hồ sơ về nghĩa vụ tài chính đã giao với số “Thông báo nộp tiền” đã nhận để phát hiện các trường hợp còn tồn đọng cùng phối hợp để làm rõ nguyên nhân tồn đọng của từng hồ sơ và đề ra phương án xử lý.

4. Phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh với Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của các tổ chức đầu tư để bán là hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam ở nước ngoài:

a) Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ; trường hợp cần thiết thì gửi phiếu lấy ý kiến đến Sở Xây dựng; Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, lập trích lục bản đồ hoặc trích đo địa chính, chuyển thông tin địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính; trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh thông báo cho đương sự biết và gửi hồ sơ kèm theo trích lục bản đồ hoặc trích đo địa chính đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện;

b) Trong thời hạn 06 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh gửi đến thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm lập hồ sơ để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình cấp Giấy chứng nhận và gửi Giấy chứng nhận cho Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh để trao Giấy chứng nhận cho người được cấp giấy.

5. Đối với việc cấp Giấy chứng nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, cá nhân nước ngoài được nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì trong thời hạn năm (05) ngày làm việc kể từ ngày trao Giấy chứng nhận, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh có trách nhiệm lập danh sách gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng để đưa lên trang Web của các Bộ, phục vụ yêu cầu quản lý.