Điều 8. Quản lý bảo vệ, phát triển và khai thác rừng vùng hồ Thác Bà
1. Việc bảo vệ và phát triển rừng vùng hồ Thác Bà phải đảm bảo nguyên tắc quản lý rừng bền vững, kết hợp bảo vệ và phát triển với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng, tạo vành đai cây xanh để điều hoà dòng chảy, hạn chế lũ lụt và bồi lấp lòng hồ Thác Bà và lưu vực sông Chảy; phòng chống suy thoái và cạn kiệt nguồn nước; ngăn chặn có hiệu quả sự rửa trôi, xói mòn đất bề mặt; góp phần điều hoà thời tiết tiểu khí hậu và tạo cảnh quan thiên nhiên vùng hồ Thác Bà.
2. Việc phát triển các loại rừng trên vùng hồ Thác Bà phải đảm bảo:
a) Đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (rừng cảnh quan) phải đảm bảo sự phát triển tự nhiên của rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan của rừng;
b) Đối với rừng sản xuất, quản lý tốt diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Với rừng trồng phải thực hiện thâm canh để tạo vùng nguyên liệu có trữ lượng cao, phát huy tốt khả năng phòng hộ, tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho vùng hồ Thác Bà.
3. Hoạt động khai thác rừng phải đảm bảo các yêu cầu:
a) Đối với rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên các chủ rừng chỉ được tiến hành tổ chức khai thác khi có quyết định mở cửa rừng của cấp có thẩm quyền. Việc khai thác chủ yếu là chặt chọn theo mục đích sử dụng lâm sản, cường độ khai thác tối đa 30% (trừ các loại gỗ quý hiếm cấm khai thác theo quy định của Chính phủ), song phải đảm bảo nguyên tắc duy trì và phát triển các chức năng phát triển bền vững của từng loại rừng để tăng khả năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái vùng hồ Thác Bà;
b) Đối với rừng trồng sản xuất, tuổi khai thác chủ rừng tự quyết định, nhưng phải đảm bảo trồng lại rừng ngay sau vụ kế tiếp;
c) Đối với rừng trồng phòng hộ, chủ rừng được khai thác cây phù trợ, tỉa thưa, chặt chọn song cường độ khai thác không quá 20%, phải đảm bảo rừng sau khai thác có độ tàn che lớn hơn hoặc bằng 0,6. Nếu chặt theo đám, theo băng thì diện tích khai thác phải nhỏ hơn hoặc bằng 1,0ha. Khi trồng xong rừng mới được khai thác diện tích rừng liền kề.