vanban.org

Điều 5. Trình tự tổ chức xác định giá bán gỗ, nghiệm thu, tiêu thụ — Quyết định 10/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/11/2015 Thay thế: 65/2015/QĐ-UBND · 18/11/2015
Lâm Đồng Ban hành 21/03/2008 Hiệu lực 31/03/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 65/2015/QĐ-UBND Ban hành quy định tiêu chí ưu tiên bán gỗ tròn cho các doanh nghiệp chế biến, tinh chế gỗ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 65/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 10/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số chính sách ưu đãi nguyên liệu gỗ tròn khai thác từ rừng trồng cho các doanh nghiệp chế biến tinh chế gỗ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 10/2008/QĐ-UBND
31/03/2008Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 10/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Trình tự tổ chức xác định giá bán gỗ, nghiệm thu, tiêu thụ

Các Doanh nghiệp, Ban Quản lý rừng, tổ chức, cá nhân chỉ bán gỗ tròn được phép khai thác, tỉa thưa rừng trồng được đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước cho các đơn vị tinh chế gỗ bằng hình thức chỉ định mua gỗ tròn tại bãi giao đối với các trường hợp không bắt buộc bán đấu giá hoặc bán đấu giá hạn chế đối với các trường hợp bắt buộc phải bán đấu giá.

Đối với các Công ty Lâm nghiệp (hoặc Lâm trường), Ban Quản lý rừng có cơ sở sản xuất chế biến tinh chế gỗ thì được để lại khối lượng gỗ khai thác rừng trồng đủ sản xuất chế biến theo đề án được duyệt. Trong trường hợp chế biến không hết thì phải tổ chức bán đấu giá hoặc không qua đấu giá theo đúng quy định về ưu đãi nguyên liệu gỗ rừng trồng quy định tại quy chế này.

1. Đối với khối lượng gỗ bắt buộc bán đấu giá:

a) Khi có giấy phép khai thác, tỉa thưa thì chủ gỗ phải lập thủ tục trình duyệt giá khởi điểm và ngay sau khi có văn bản duyệt giá khởi điểm, chủ gỗ phải thông báo mời dự đấu giá, tổ chức đấu giá hạn chế cho các đơn vị tinh chế gỗ theo những quy định hiện hành và chỉ tiến hành khai thác, tỉa thưa sau khi ký kết xong hợp đồng mua bán với đơn vị trúng thầu.

b) Đúng thời gian tổ chức đấu giá mà không có đơn vị tinh chế gỗ nào tham gia đấu giá mua gỗ tại bãi giao; hoặc đấu giá trúng mà không ký kết hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ tài chính theo các quy định thì chủ gỗ được quyền tổ chức đấu giá bán gỗ tại bãi giao với tất cả các đơn vị được quyền tham gia đấu giá gỗ theo quy định hiện hành của Nhà nước.

2. Đối với khối lượng gỗ không bắt buộc phải bán đấu giá:

a) Khi có giấy phép khai thác, tỉa thưa thì chủ gỗ phải hoàn chỉnh các thủ tục về giá, thông báo trong thời gian 10 ngày cho các đơn vị tinh chế gỗ để chọn đơn vị mua gỗ, tiến hành ký kết hợp đồng mua bán gỗ, sau đó mới được tiến hành khai thác.

b) Sau khi chủ gỗ thông báo cho các đơn vị tinh chế gỗ, mà các đơn vị tinh chế gỗ không thống nhất giá gỗ, không đến ký kết hợp đồng mua bán thì chủ gỗ được quyền giải quyết bán lô gỗ đó cho các đơn vị khác theo nguyên tắc giá bán phải bằng hoặc lớn hơn giá gỗ đưa ra thoả thuận với các đơn vị tinh chế gỗ cho tất cả các đơn vị được quyền tham gia mua gỗ theo quy định hiện hành của Nhà nước.

3. Thời gian khai thác, nghiệm thu, kiểm tra xác nhận, tiêu thụ gỗ tròn:

Thời gian khai thác, nghiệm thu, kiểm tra xác nhận, xuất kho tiêu thụ gỗ tròn rừng trồng không quá 20 ngày; trong đó:

a) Khai thác, đo đếm, lập lý lịch (nếu đủ tiêu chuẩn lập lý lịch gỗ tròn) không quá 15 ngày/đợt (do chủ gỗ thực hiện ).

b) Kiểm tra, xác nhận lý lịch gỗ tròn không quá 03 ngày sau khi có đề nghị của chủ gỗ (do cơ quan Kiểm lâm thực hiện ).

c) Viết hóa đơn, phiếu xuất kho, thu tiền, giao gỗ cho khách hàng (đơn vị mua gỗ) không quá 02 ngày sau khi cơ quan Kiểm lâm đã lập biên bản xác nhận (do chủ gỗ phối hợp cùng khách hàng thực hiện).