Điều 10. Tổ chức công khai thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính đã được công bố phải được công khai kịp thời, đầy đủ theo quy định sau đây:
1. Các cơ quan chuyên môn, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm niêm yết công khai thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết theo hướng dẫn tại các Điều 10, 11, 12 và biểu mẫu tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 05/2014/TT-BTP. Trong đó, hình thức niêm yết trên bảng và hình thức đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính là hình thức bắt buộc.
2. Các tổ chức quy định ở Khoản 2, Điều 4, Chương II Quy chế này có trách nhiệm niêm yết công khai thủ tục hành chính được ủy quyền tiếp nhận, giải quyết theo hướng dẫn tại các Điều 10, 11, 12 và biểu mẫu tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 05/2014/TT-BTP.
3. Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp xây dựng Chuyên mục công khai thủ tục hành chính, kết nối Cổng thông tin điện tử của tỉnh với Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp, cơ quan chuyên môn, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Cơ sở dữ liệu Quốc gia về thủ tục hành chính để công khai thủ tục hành chính theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin.
4. Các cơ quan soạn thảo Quyết định công bố chịu trách nhiệm nhập và gửi dữ liệu về thủ tục hành chính, văn bản quy định về thủ tục hành chính đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh.
5. Sở Tư pháp chịu trách nhiệm nhập và gửi dữ liệu về thủ tục hành chính, văn bản quy định về thủ tục hành chính đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố vào Cơ sở dữ liệu Quốc gia về thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP; kiểm soát việc nhập dữ liệu và đăng tải công khai thủ tục hành chính của các cơ quan soạn thảo trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh.