Điều 4. Chủ đầu tư dự án nhà ở công nhân, nhà ở người thu nhập thấp
1. Đối với dự án nhà ở công nhân khu công nghiệp: chủ đầu tư cấp I hoặc chủ đầu tư cấp II theo quy định tại Điều 2 Quyết định 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 33 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ khi đăng ký thực hiện dự án nhà ở công nhân là chủ đầu tư dự án nhà ở công nhân.
2. Đối với dự án nhà ở người thu nhập thấp: các nhà đầu tư đăng ký thực hiện dự án nhà ở người thu nhập thấp theo quy định tại Điều 2 Quyết định 67/2009/QĐ- TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 33 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ, trong đó:
a) Doanh nghiệp sở hữu vốn đầu tư dự án nhà ở người thu nhập thấp là chủ đầu tư các dự án này.
b) Trường hợp nhà đầu tư đăng ký thực hiện dự án nhà ở thương mại, khu đô thị mới có quy mô 10 ha trở lên thì phải dành tối thiểu 20% quỹ đất trong phạm vi dự án nhà ở thương mại, khu đô thị mới đầu tư xây dựng nhà ở người thu nhập thấp đồng thời đảm nhận làm chủ đầu tư dự án nhà ở người thu nhập thấp đó. Trường hợp chủ đầu tư dự án không thực hiện thì UBND tỉnh xem xét giao chủ đầu tư khác thực hiện theo đúng quy định hiện hành.
c) Trường hợp nhà đầu tư đã có quỹ đất sạch (đã có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật) đăng ký đầu tư xây dựng nhà ở người thu nhập thấp thì nhà đầu tư đó là chủ đầu tư dự án.
d) Trường hợp nhà đầu tư được Nhà nước giao đất để đầu tư xây dựng nhà ở người thu nhập thấp để cho thuê, cho thuê mua thì nhà đầu tư đó là chủ đầu tư dự án.
3. Chủ đầu tư là các cơ quan, đơn vị được UBND tỉnh giao quản lý, tổ chức thực hiện các dự án nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp, cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.
4. Hộ gia đình, cá nhân trong nước có đất hợp pháp và đúng mục đích sử dụng đất đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân thuê. Hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân thuê thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật về xây dựng.