Điều 4. Địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng
Địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng bao gồm: Trạm tiếp nhận, kho, bãi tồn trữ, bến thủy bốc dỡ, trung tâm, siêu thị, chợ, cửa hàng buôn bán, cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
Địa điểm kinh doanh là nơi hoạt động giao dịch, trao đổi, thỏa thuận việc mua bán hàng hóa vật liệu xây dựng của tổ chức, cá nhân. Việc bày bán vật liệu xây dựng phải phù hợp với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện, Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh, Quy hoạch chung xây dựng của huyện và Quy định khu vực, đường phố được phép kinh doanh vật liệu xây dựng của huyện; phải đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường, cảnh quan, trật tự an toàn giao thông, không xâm phạm chỉ giới giao thông, không lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, đảm bảo các quy định về hành lang bảo vệ đê, hành lang bảo vệ công trình đường bộ, đường sông, đường sắt và hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp, khu vực di tích lịch sử văn hóa, khu vực danh lam thắng cảnh; phải có trang thiết bị phòng, chống cháy, nổ và tuân thủ theo quy định của cơ quan chuyên ngành phòng cháy, chữa cháy.
Các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về địa điểm sản xuất, kinh doanh. Việc bày bán vật liệu xây dựng chỉ được thực hiện tại các tuyến đường được quy định cụ thể theo Phụ lục 1 đính kèm Quy định này.
Các trường hợp đã được cấp phép đăng ký kinh doanh vật liệu xây dựng đang hoạt động kinh doanh trên các tuyến đường không có trong Danh mục theo Phụ lục 1 thì phải có lộ trình chuyển đổi hình thức kinh doanh hoặc phải di dời đến các địa điểm phù hợp với Quy định này.
Địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng chỉ bố trí trong khu vực quy hoạch khu dân cư trên các tuyến đường được quy định cụ thể theo Phụ lục 1 đính kèm Quy định này, không bố trí trong khu vực quy hoạch nông nghiệp.