Điều 9. Ban chấp hành:
1 - Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của Hội. Ban chấp hành chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đại hội và lãnh đạo toàn bộ hoạt động của Hội giữa 2 kỳ Đại hội. Số lượng Ủy viên ban chấp hành Hội do Đại hội quyết định.
a. Ban chấp hành Trung ương hội và Ban chấp hành Tỉnh hội bầu các chức danh: Chủ tịch, các phó chủ tịch và các Ủy viên thường vụ.
b. Ban chấp hành Hội cơ sở bầu ra Chủ tịch, phó chủ tịch.
c. Ban chấp hành Trung ương hội và Tỉnh hội gồm 3 thành phần: chuyên trách, đại diện và tiêu biểu.
d. Số lượng ủy viên Ban chấp hành Hội cơ sở có từ 3 đến 7 người.
2 - Các hội có quyền bổ sung thêm ủy viên vào Ban chấp hành theo sự phát triển của Hội. Việc bổ sung ủy viên Ban chấp hành Trung ương hội thuộc thành phần đại diện do Ban thường vụ Trung ương hội quyết định, còn thành phần khác do Ban chấp hành nhất trí.
3 - Trường hợp ủy viên Ban chấp hành do tuổi cao, sức yếu, hoặc không còn thuộc thành phần cơ cấu thì được rút khỏi Ban chấp hành.
4 - Ban chấp hành Trung ương hội họp ít nhất mỗi năm 1 lần do Ban thường vụ triệu tập.
5 - Ban chấp hành cấp Tỉnh hội họp thường kỳ ít nhất 3 tháng 1 lần do Ban thường vụ triệu tập.
6 - Ban chấp hành Hội cơ sở mỗi tháng họp 1 lần do thường trực triệu tập.