Điều 9. Đối với trạng thái là rừng khoanh nuôi, tái sinh phục hồi rừng.
1. Rừng phòng hộ cấp I, II :
- Hộ nhận khoán được thanh toán tiền công bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha/năm, thời hạn không quá 5 năm (nguồn vốn Trung ương cấp theo Dự án 661).
- Khi rừng nhận khoán được đưa vào khai thác, hộ nhận khoán sẽ không được thanh toán tiền công bảo vệ nữa mà được hưởng lợi như sau:
Căn cứ vào giá bán cây đứng lồ ô được phép khai thác do UBND tỉnh quy định. Sau khi trừ chi phí thiết kế khai thác, nộp thuế tài nguyên theo quy định, giá trị còn lại các bên được hưởng theo tỷ lệ sau :
+ Hộ nhận khoán được hưởng 94%.
+ Bên giao khoán được hưởng 3%.
+ Nộp ngân sách xã 3%, (sử dụng vào mục đích nông nghiệp).
2. Rừng phòng hộ cấp III, sản xuất :
- Hộ nhận khoán được thanh toán tiền công bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha/năm, thời hạn không quá 5 năm (nguồn vốn ngân sách tỉnh).
- Khi rừng nhận khoán được đưa vào khai thác, hộ nhận khoán sẽ không được thanh toán tiền công bảo vệ nữa mà được hưởng lợi như sau:
Căn cứ vào giá bán cây đứng lồ ô được phép khai thác do UBND tỉnh quy định. Sau khi trừ chi phí thiết kế khai thác, nộp thuế tài nguyên theo quy định, giá trị còn lại các bên được hưởng theo tỷ lệ sau :
+ Hộ nhận khoán được hưởng 94%.
+ Bên giao khoán được hưởng 3%.
+ Nộp ngân sách xã 3%, (sử dụng vào mục đích nông nghiệp).