Điều 4. Nguyên tắc phối hợp
1. Đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
2. Việc phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, liên tục hoặc đột xuất theo yêu cầu công việc giữa các Sở, Ban, Ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
3. Việc phối hợp không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngành, các cơ quan có liên quan theo quy định của pháp luật. Đảm bảo sự quản lý Nhà nước được thống nhất trên các lĩnh vực và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN.
4. Các cơ quan chức năng liên quan có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ các nội dung, tài liệu cần thiết và phối hợp giải quyết kịp thời các thủ tục hành chính trong phạm vi thời gian quy định đối với loại thủ tục hành chính đó theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông”.
5. Những vướng mắc phát sinh trong quá trình phối hợp công tác phải được bàn bạc để thống nhất phương án giải quyết. Trường hợp không thống nhất được phương án giải quyết thì báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để xin ý kiến chỉ đạo.
6. Việc phối hợp xử lý các hành vi vi phạm của người nộp thuế, thuộc thẩm quyền xử lý của Sở, Ban, Ngành nào thì chuyển hồ sơ về cơ quan đó để xử lý. Kết quả xử lý phải được thông báo cho các Sở, Ban, Ngành và cơ quan có liên quan được biết.
7. Nội dung thông tin trao đổi và phối hợp công tác giữa các cơ quan được quản lý theo quy định của pháp luật và quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, chỉ được sử dụng trong công tác quản lý thu, nộp thuế đối với hoạt động xây dựng cơ bản vào ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.