Điều 6. xếp hạng di tích, tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích
1. Thẩm quyền xếp hạng đối với di tích quốc gia và cấp tỉnh được áp dụng theo quy định tại Khoản 11, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.
2. Điều kiện xếp hạng di tích:
a) Đối với di tích đề nghị xếp hạng di tích cấp quốc gia lấy cơ sở từ các di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh;
b) Đối với di tích đề nghị xếp hạng cấp tỉnh lấy cơ sở từ danh mục kiểm kê di tích được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, công bố.
3. Trách nhiệm trình hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích:
a) Đối với di tích quốc gia đặc biệt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
b) Đối với di tích quốc gia, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định.
c) Đối với di tích cấp tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng vào tháng 5 và tháng 11 hằng năm.
d) Đối với việc kiểm kê đưa vào danh mục bảo vệ di tích, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
4. Trách nhiệm lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích:
a) Hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện.
b) Hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện.
5. Tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức hoặc ủy quyền Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
b) Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh hoặc ủy quyền Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh.