vanban.org

Điều 7. Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, hoạt động của hướng dẫn viên du lịch — Quyết định 08/2019/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/09/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 21/05/2020 Sửa đổi, bổ sung: 15/2020/QĐ-UBND · 11/05/2020
Đắk Lắk Ban hành 06/05/2019 Hiệu lực 16/05/2019 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 7 năm
Quyết định số 08/2019/QĐ-UBND Quy định mô hình quản lý khu du lịch cấp tỉnh · 08/2019/QĐ-UBND
21/05/202015/2020/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Đang xem 16/05/2019Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 08/2019/QĐ-UBND › Chương III › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, hoạt động của hướng dẫn viên du lịch

Sửa đổi bởi 15/2020/QĐ-UBND · hiệu lực 21/05/2020

1. Các tổ chức, cá nhân khi hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong các khu du lịch phải có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Chương I và Điều 66, 68 Chương VIII Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và kinh doanh đúng ngành, nghề đã đăng ký, trừ các trường hợp không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch trong các khu du lịch phải thực hiện các nội dung sau:

a) Thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành và Quy định này;

b) Chấp hành sự kiểm tra, giám sát về chất lượng dịch vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Không được sử dụng tư cách pháp nhân của tổ chức khác hoặc cho người khác sử dụng tư cách pháp nhân của mình trong quản lý, điều hành khu du lịch đã được giao;

d) Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, nghĩa vụ đối với từng loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch; bán hàng đúng nơi quy định, niêm yết công khai giá dịch vụ và thực hiện bán hàng đúng giá niêm yết; đảm bảo chất lượng hàng hóa cung cấp; thực hiện đón tiếp, phục vụ khách bằng thái độ thân thiện, lịch sự, hòa nhã, không được tranh giành, đeo bám khách, gây mất trật tự an ninh trong khu du lịch;

đ) Nghiêm cấm mua, bán, tàng trữ và sử dụng trái phép các chất ma túy, các chất gây nghiện; nghiêm cấm buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã và các sản phẩm, chế phẩm được làm từ động, thực vật hoang dã; nghiêm cấm việc tổ chức mại dâm trong khu du lịch; nghiêm cấm các hoạt động biểu diễn có tính chất khiêu dâm, kích động bạo lực trái với thuần phong mỹ tục văn hóa của Việt Nam.

Sửa đổi bởi 15/2020/QĐ-UBND · hiệu lực 21/05/2020

3. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ vận tải khách du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao phải thực hiện niêm yết quy định rõ về độ tuổi và những người không được phép tham gia; mua bảo hiểm cho khách du lịch khi tham gia các hoạt động dịch vụ theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Chương V Luật Du lịch số 09/2017/QH14, 19/6/2017 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3; bố trí lực lượng cứu nạn, cứu hộ để bảo vệ tính mạng, tài sản cho du khách trong các trường hợp khẩn cấp.

4. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lữ hành, vận chuyển khách du lịch phải công khai, niêm yết giá chương trình du lịch; có hướng dẫn viên du lịch; phải đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho khách khi tổ chức chương trình tham quan các tuyến du lịch trên địa bàn tỉnh; cung cấp thông tin cho khách về quy định bảo vệ tài nguyên du lịch, vệ sinh môi trường; không được để khách lợi dụng hoạt động du lịch để xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; phản ánh kịp thời với chính quyền địa phương về các hành vi gây tổn hại đến an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, cảnh quan du lịch trên địa bàn.

5. Hướng dẫn viên du lịch được hành nghề trong khu du lịch khi đáp ứng đủ điều kiện tại khoản 3 Điều 58 Luật Du lịch.