Điều 9. Thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình
1. Đối với công trình lập dự án:
Chủ đầu tư tự tổ chức việc thẩm định, phê duyệt thiết kế - kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán, tổng dự toán công trình.
2. Đối với công trình lập báo cáo kinh tế kỹ thuật:
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định thiết kế bản vẽ thi công để người quyết định đầu tư phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định, phê duyệt dự toán công trình.
Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán của hạng mục, công trình trước khi đưa ra thi công phải được thẩm định và phê duyệt.
Trường hợp chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực thẩm định thì được phép thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra thiết kế, dự toán công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt. Tùy theo yêu cầu của chủ đầu tư, việc thẩm tra thiết kế, dự toán, tổng dự toán có thể thực hiện đối với toàn bộ hoặc một phần các nội dung quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều 16 của NĐ số 16/2005/NĐ-CP.
3. Đối với công trình nhà ở riêng lẻ:
- Nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích xây dựng sàn lớn hơn 250 m2, từ 3 tầng trở lên thì việc thiết kế phải do tổ chức, cá nhân thiết kế có đủ năng lực hoạt động thiết kế xây dựng hoặc năng lực hành nghề thiết kế xây dựng thực hiện và phải được thẩm định thiết kế bản vẽ thi công theo quy định.
- Nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích sàn không lớn hơn 250 m2, từ 2 tầng trở xuống do cá nhân, hộ gia đình được tự tổ chức thiết kế nhưng phải phù hợp với quy hoạch được duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng thiết kế, tác động của công trình đến môi trường và an toàn của các công trình lân cận. Cá nhân hành nghề độc lập thiết kế xây dựng công trình phải có đủ điều kiện năng lực hoạt động thiết kế xây dựng công trình, năng lực hành nghề phù hợp theo quy định tại Điều 65 của NĐ số 16/2005/NĐ-CP, người thiết kế phải có kinh nghiệm đã từng thiết kế những công trình tương tự có chất lượng đảm bảo, khuyến khích việc thẩm định thiết kế bản vẽ thi công công trình.