vanban.org

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái Quy định về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư­; Bộ đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, hoa màu cho người bị thu hồi đất để xây dựng đư­ờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 04/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND với những nội dung như sau: — Quyết định 07/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 27/09/2014 Thay thế: 17/2014/QĐ-UBND · 17/09/2014
Yên Bái Ban hành 08/04/2014 Hiệu lực 18/04/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 16/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ · 16/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 17/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số điều, khoản của Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. · 17/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 07/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái Quy định về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư¬; Bộ đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, hoa màu cho người bị thu hồi đất để xây dựng đư¬ờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 04/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND. · 07/2014/QĐ-UBND
18/04/2014Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 07/2014/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái Quy định về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư­; Bộ đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, hoa màu cho người bị thu hồi đất để xây dựng đư­ờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 04/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND với những nội dung như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND như sau:

“Điều 26. Hỗ trợ di chuyển và hỗ trợ thuê nhà ở trong thời gian tạo lập nơi ở mới)

1. Hỗ trợ di chuyển:

a) Hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất ở có nhà ở mà phải di chuyển chỗ ở trong phạm vi tỉnh Yên Bái được hỗ trợ  6.000.000 đồng/hộ; nếu di chuyển sang tỉnh khác, có đơn xin di chuyển của hộ gia đình và xác nhận của chính quyền địa phương nơi chuyển đến thì được hỗ trợ 8.000.000 đồng/hộ.

Trường hợp hộ gia đình có số nhân khẩu từ 10 người trở lên cùng chung sống trong một nhà (trong cùng sổ hộ khẩu) thì được hỗ trợ bằng 1,5 lần mức hỗ trợ nêu trên.

b) Tổ chức có đủ điều kiện được bồi thường thiệt hại về đất và tài sản khi bị thu hồi mà phải di chuyển cơ sở thì được hỗ trợ chi phí thực tế tháo dỡ, di chuyển và lắp đặt theo dự toán được cơ quan thẩm định xem xét, trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.

2. Hỗ trợ thuê nhà trong thời gian tạo lập chỗ ở mới:

Người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà không còn chỗ ở nào khác thì trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới được hỗ trợ tiền thuê nhà ở. Mức hỗ trợ thuê nhà ở tại các xã, thị trấn là 250.000 đồng/tháng/01khẩu nhưng không ít hơn 600.000 đồng/tháng/hộ gia đình; tại các phường là 300.000 đồng/tháng/01 khẩu nhưng không ít hơn 800.000 đồng/tháng/hộ gia đình. Thời gian thuê nhà được hỗ trợ là 6 tháng. Trường hợp quá 6 tháng kể từ ngày người bị thu hồi đất bàn giao mặt bằng mà Nhà nước chưa giao được đất cho người có đăng ký nhu cầu tái định cư theo quy định thì Hội đồng bồi thường xem xét, xây dựng phương án bổ sung tiền hỗ trợ thuê nhà ở trình Uỷ ban nhân dân cấp thẩm quyền quyết định”.        

2. Sửa đổi Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 , Khoản 4 và bổ sung thêm một số Khoản của Điều 30 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND, sửa đổi nội dung sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 30 quy định tại Khoản 10 Điều 1 Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND như sau:

“Điều 30. Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp bị thu hồi đất ở có nhà ở

1. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở có nhà ở (thu hồi để thực hiện dự án và trường hợp thu hồi đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn, thuộc diện phải di chuyển chỗ ở và thu hồi đất để bảo đảm an toàn theo quy định) thì được xem xét hỗ trợ tái định cư theo điểm a, điểm b Khoản 2 Điều này khi có đủ những điều kiện sau đây:

a) Đất ở bị thu hồi đủ điều kiện bồi thường theo Điều 4, Điều 7 và Điều 8 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 (đã được sửa đổi tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 1 Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND);

b) Trên đất ở bị thu hồi phải có nhà ở và phải di chuyển chỗ ở (nhà ở đó phải là nhà ở độc lập, không sử dụng chung với hộ gia đình khác, tối thiểu phải gồm có diện tích để ở, để phục vụ sinh hoạt và đời sống riêng của một hộ gia đình. Trường hợp có từ hai hộ trở lên đang ở chung trong một nhà thì chỉ tính cho một hộ có giấy tờ về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở hoặc đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật); được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi xác nhận là không có nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn tính đến thời điểm quyết định thu hồi đất;

c) Chủ sử dụng đất bị thu hồi phải có hộ khẩu riêng (phải có bản sao Sổ hộ khẩu riêng), địa chỉ đất ở bị thu hồi phải phù hợp với nơi đăng ký hộ khẩu thường trú;

d) Người bị thu hồi đất ở có nhà ở có đơn đăng ký vào khu tái định cư của dự án theo Quy định này;

e) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải căn cứ hiện trạng sử dụng nhà ở, đất ở bị thu hồi thực tế và lập danh sách các trường hợp đủ điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d khoản này, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn sở tại.

 2. Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở đủ điều kiện xem xét hỗ trợ tái định cư nêu tại khoản 1 Điều này thì được hỗ trợ tái định cư theo quy định sau đây:

a) Tr­ường hợp hộ gia đình, cá nhân đăng ký vào khu tái định cư­ của dự án mà tổng số tiền bồi th­ường, hỗ trợ gồm: Tiền bồi th­ường đất ở; tiền hỗ trợ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nh­ưng không đư­ợc công nhận là đất ở; tiền hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư­ xã, thị trấn và đất nông nghiệp tại phường mà nhỏ hơn giá trị một suất tái định c­ư tối thiểu quy định tại điểm b khoản này thì hộ gia đình, cá nhân đ­ược hỗ trợ khoản chênh lệch đó (không phải nộp khoản chênh lệch giữa giá trị bồi th­ường, hỗ trợ về đất theo phương án đ­ược phê duyệt với giá trị suất tái định cư­ tối thiểu).

  Trư­ờng hợp giá trị suất tái định cư­ tối thiểu nhỏ hơn số tiền sử dụng đất tái định cư­ thì hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở phải chi trả khoản chênh lệch đó tr­ước khi đ­ược giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tái định cư­. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có khó khăn về việc nộp tiền sử dụng đất, đ­ược Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thì đ­ược xem xét cho ghi nợ tiền sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành.

b) Suất tái định cư tối thiểu như sau:

b.1. Suất tái định cư tối thiểu tại các xã là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;

b.2. Suất tái định cư tối thiểu tại các thị trấn là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng;

b.3. Suất tái định cư tối thiểu tại các phường là 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng.

c) Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện vào các khu tái định cư tập trung nhưng chủ đầu tư không sắp xếp được vào các khu tái định cư tập trung thuộc dự án đường Cao tốc Nội Bài – Lào Cai thì được bố trí vào khu tái định cư thuộc các dự án khác của tỉnh (khu tái định cư do sở Giao thông Vận tải giới thiệu và được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận), thì hộ gia đình, cá nhân phải nộp tiền sử dụng đất theo đơn giá của các dự án khác theo quy định.

- Trường hợp giá đất trong khu tái định cư được bố trí cao hơn so với giá đất ở bị thu hồi của các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi thực hiện dự án đường Cao tốc Nội Bài – Lào Cai thì Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư lập phương án bổ sung phần chênh lệch cho các hộ gia đình, cá nhân trong hồ sơ bồi thường hỗ trợ;         

- Trường hợp giá đất trong khu tái định cư được bố trí thấp hơn so với giá đất của các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi thực hiện dự án đường Cao tốc Nội Bài – Lào Cai thì hộ gia đình, cá nhân không phải nộp lại phần chênh lệch do giá trị  bồi thường, hỗ trợ cao hơn giá đất tái định cư phải nộp.

d) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã căn cứ vào hồ sơ thu hồi đất, đơn xin giao đất ở tại khu tái định cư để lập danh sách các trường hợp nộp đơn trong thời hạn quy định; niêm yết công khai và lập biên bản về kết quả công khai và giải quyết các ý kiến; sau khi thời gian niêm yết và giải quyết các ý kiến, Uỷ ban nhân dân xã xác nhận danh sách làm căn cứ thực hiện chính sách hỗ trợ tái định cư. Danh sách này phải gửi đến cơ quan thẩm định cùng phương án bồi thường, hỗ trợ để thẩm định.

e) Trường hợp chỉ bị thu hồi đất ở mà không có nhà ở, nếu hộ gia đình, cá nhân được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là không còn đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn thì được đăng ký giao đất có thu tiền tại khu tái định cư nhưng không được hỗ trợ khoản chênh lệch với Suất tái định cư tối thiểu theo điểm a, điểm b khoản này.

3. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi một hoặc nhiều thửa đất ở đang có nhà ở và phải di dời chỗ ở, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có chỗ ở nào khác trong địa bàn cấp xã nơi bị thu hồi đất. Nếu chủ hộ gia đình, cá nhân có đơn đăng ký tự lo chỗ ở mới và nộp đơn tại Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được mẫu đơn đăng ký do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng cung cấp thì được hỗ trợ để tự lo chỗ ở mới theo địa bàn thu hồi đất như sau:

a) Trường hợp thu hồi đất ở có nhà ở tại các xã thì hỗ trợ 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng/hộ gia đình, cá nhân;

b) Trường hợp thu hồi đất ở có nhà ở tại các thị trấn thì hỗ trợ 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng/hộ gia đình, cá nhân;

c) Trường hợp thu hồi đất ở có nhà ở tại các phường thì hỗ trợ 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng/hộ gia đình, cá nhân;

d) Sau 15 ngày kể từ ngày cung cấp mẫu đơn đăng ký cho người bị thu hồi đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải thu đơn đăng ký, lập danh sách các hộ đăng ký tự lo chỗ ở mới và danh sách các hộ đăng ký xin giao đất có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư. Các danh sách này phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

4. Những trường hợp không được hỗ trợ theo khoản 3 Điều này

a) Người không có đơn đăng ký tự lo chỗ ở mới hoặc có đơn đăng ký nhưng nộp đơn không đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà không có lý do chính đáng;

b) Trường hợp bị thu hồi đất ở nhưng không có nhà ở trên đất hoặc có nhà ở nhưng đã hư hỏng không sử dụng quá 12 tháng liên tục tính đến ngày có văn bản thông báo thu hồi đất của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác nhận thời gian không sử dụng nhà ở liên tục tại điểm này;

c) Trường hợp đất ở có nhà ở sau ngày thông báo thu hồi đất của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

5a. Trường hợp trong một dự án mà một hộ gia đình bị thu hồi từ hai (02) thửa đất ở có nhà ở trở lên thì chỉ được hỗ trợ tái định cư cho một chỗ ở.

6. Trường hợp trong một nhà ở trên đất ở bị thu hồi có từ hai hộ trở lên cùng chung sống (có sổ hộ khẩu riêng) thì chỉ một hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở hoặc đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất ở được hỗ trợ.

7. Trường hợp hộ đã làm nhà ra ở riêng nhưng chưa làm thủ tục tách sổ hộ khẩu riêng hoặc trường hợp đã làm nhà ở trên đất nhận chuyển quyền của người khác nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định, nếu được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã làm nhà ra ở riêng từ trước ngày thông báo thu hồi đất và đất đó đủ điều kiện bồi thường đất ở thì cũng thuộc đối tượng xem xét hỗ trợ theo khoản 3 Điều này; nếu làm nhà ra ở riêng từ ngày thông báo thu hồi đất trở về sau hoặc đất đã làm nhà không đủ điều kiện bồi thường đất ở thì không thuộc đối tượng xem xét hỗ trợ theo khoản 3 Điều này.

8. Để được hỗ trợ theo khoản 3 Điều này thì nhà đó phải là nhà chính để ở của hộ gia đình, cá nhân.

9. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nộp đơn đăng ký mua đất tái định cư tập trung của dự án theo khoản 3 Điều này nhưng sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nộp đơn, hộ đó lại có đơn đề nghị tự lo chỗ ở mới thì không được nhận tiền hỗ trợ tại khoản 3 Điều này".

3. Sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 1 Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND như sau:

“Điều 11. Hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở nhưng không được công nhận là đất ở; đất nông nghiệp trong địa giới hành chính các phường; đất nông nghiệp tiếp giáp địa giới hành chính phường; đất nông nghiệp tiếp giáp khu dân cư tại xã, thị trấn

Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở nhưng không được công nhận là đất ở; đất nông nghiệp tại các phường; đất nông nghiệp tiếp giáp địa giới hành chính phường; đất nông nghiệp tiếp giáp khu dân cư tại xã, thị trấn thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp bị thu hồi, người bị thu hồi đất còn được hỗ trợ:

1. Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp tại xã, thị trấn.

a) Đối với đất vườn, ao trong thửa đất có nhà ở trong khu dân cư; đất vườn, ao trong thửa đất có nhà ở lẻ tẻ; đất vườn, ao trong thửa đất có nhà ở dọc kênh mương; đất vườn, ao trong thửa đất có nhà ở ven đường giao thông mà không được công nhận là đất ở thì được hỗ trợ theo đơn giá bằng 30% giá đất ở của thửa đất vườn, ao đó; nếu 30% giá đất ở của thửa đất vườn, ao đó mà thấp hơn 30% giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất thì được áp dụng theo đơn giá bằng 30% giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất;

Diện tích hỗ trợ cho một hộ gia đình, cá nhân trong một dự án là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 800m2;

b) Đối với đất nông nghiệp còn lại trong khu dân cư tại xã, thị trấn (trừ những thửa đất đã được hỗ trợ theo điểm a khoản này) thì được hỗ trợ theo đơn giá  bằng 30% giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất đó. Phạm vi khu vực thu hồi đất do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng xác định cho phù hợp với thực tế.

Diện tích hỗ trợ cho một hộ gia đình, cá nhân trong một dự án là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 800m2;

c) Trường hợp giá hỗ trợ cho 01m2 đất theo điểm a, điểm b khoản này mà thấp hơn 02 lần giá đất nông nghiệp bị thu hồi thì được hỗ trợ thêm cho bằng 02 lần giá đất nông nghiệp bị thu hồi;

d) Đối với thửa đất nông nghiệp tiếp giáp khu dân cư tại thị trấn, thửa đất nông nghiệp tiếp giáp khu dân cư tại xã, thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường thì được hỗ trợ bằng 30% giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất.

Diện tích hỗ trợ cho một hộ gia đình, cá nhân trong một dự án là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 400 m2.

2.  Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp tại phường.

a) Đối với đất vườn, ao trong thửa đất có nhà ở tại phường nhưng không được công nhận là đất ở thì được hỗ trợ theo đơn giá bằng 30% giá đất ở của thửa đất vườn, ao đó; nếu 30% giá đất ở của thửa đất vườn, ao đó thấp hơn 30% giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất thì được áp dụng theo đơn giá bằng 30% giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất;

Diện tích hỗ trợ cho một hộ gia đình, cá nhân trong một dự án là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 600 m2;

b) Đối với đất nông nghiệp còn lại trong địa giới hành chính phường (trừ những thửa đất đã được hỗ trợ theo điểm a khoản này) thì được hỗ trợ theo đơn giá bằng 30% giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất đó. Phạm vi khu vực thu hồi đất do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng xác định cho phù hợp với thực tế.

Diện tích được hỗ trợ của một hộ gia đình, cá nhân trong một dự án là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 800m2;

c) Trường hợp giá hỗ trợ cho 01 m2 đất theo điểm a, điểm b khoản này mà thấp hơn 02 lần giá đất nông nghiệp bị thu hồi thì được hỗ trợ thêm cho bằng 02 lần giá đất nông nghiệp bị thu hồi;

d) Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp tại phường, nếu sau khi thực hiện hỗ trợ theo điểm a, điểm b khoản này nhưng chưa hết diện tích bị thu hồi mà diện tích đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất thì được hỗ trợ theo đơn giá bằng 02 lần giá đất bị thu hồi, diện tích được hỗ trợ của một hộ gia đình, cá nhân trong một dự án không vượt quá 3.000 m2.

Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nhiều lần để thực hiện nhiều dự án thì tổng diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai. Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân cấp xã nơi có đất bị thu hồi lập sổ theo dõi diện tích được hỗ trợ của hộ gia đình, cá nhân trong từng dự án và lưu lâu dài để thực hiện theo quy định tại điểm này".

3. Xác định giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất.

Căn cứ bảng giá đất ở do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xây dựng giá đất ở trung bình trong khu vực thu hồi đất của từng dự án, trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định trước khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án.

4. Xác định khu dân cư tại xã, thị trấn.

a) Việc xác định khu dân cư thực hiện như sau:

- Đối với nơi đã có quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì phạm vi khu dân cư được xác định theo quy hoạch; trường hợp hiện trạng là khu dân cư nhưng được quy hoạch vào mục đích khác thì phạm vi khu dân cư để thực hiện bồi thường, hỗ trợ xác định theo hiện trạng ranh giới thửa đất có nhà ở ngoài cùng của cộng đồng dân cư;

- Đối với nơi chưa có quy hoạch thì phạm vi khu dân cư xác định theo hiện trạng ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của cộng đồng dân cư;

b) Đất nông nghiệp gồm những cánh đồng, những quả đồi, núi nằm liền kề với các khu dân cư xác định theo điểm a khoản này thì không được xác định là đất nông nghiệp trong khu dân cư. Tại những nơi đó, chỉ những thửa đất có ít nhất một cạnh thửa tiếp giáp với khu dân cư xác định theo điểm a khoản này mới được hỗ trợ là đất nông nghiệp tiếp giáp khu dân cư theo điểm d khoản 1 Điều này;

c) Trước khi tiến hành kiểm đếm, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải căn cứ vào quy định tại điểm a, điểm b khoản này và bản đồ địa chính thu hồi đất để xác định rõ ranh giới, phạm vi khu dân cư, thể hiện trên bản đồ thu hồi đất, gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định; Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường ký xác nhận vào bản đồ, trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt bản đồ phạm vi khu dân cư làm căn cứ thực hiện.”

4. Bộ đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, hoa màu khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai trên địa bàn tỉnh Yên Bái ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008QĐ-UBND được thay thế bằng bộ đơn giá Bồi thường về nhà ở, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối hoa màu và tài sản khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng cho các trường hợp thu hồi đất bổ sung để xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai trên địa bàn tỉnh Yên Bái ban hành kèm theo Quyết định này.