Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối kết hợp với các sở, ngành có liên quan tham mưu trình ủy ban nhân dân tỉnh phân bổ nguồn vốn chương trình hàng năm.
2. Sở Tài chính: Chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Lao động Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục lập dự toán, thanh quyết toán nguồn vốn hàng năm theo quy định hiện hành.
3. Sở Nông nghiệp và PTNT: Chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc UBND các huyện triển khai thực hiện đảm bảo đúng tiến độ. Tổng hợp xây dựng kế hoạch thống nhất với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính trình UBND tỉnh phê duyệt giao chỉ tiêu kế hoạch hàng năm.
Chỉ đạo các đơn vị, cơ quan chuyên môn hướng dẫn nhân dân lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện của địa phương để đưa vào chuyển đổi và làm căn cứ hỗ trợ.
4. Sở Lao động Thương binh và Xã hội: Là cơ quan thường trực Chương trình, chịu trách nhiệm phối hợp với các sở, ngành liên quan hướng dẫn, theo dõi, tổng hợp báo cáo tiến độ, kết quả, hiệu quả thực hiện Chương trình báo cáo UBND tỉnh. Hàng năm chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng kế hoạch nội dung của các cuộc kiểm tra, giám sát tại các huyện được hưởng chính sách theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP.
5. Ban Dân tộc: Phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát thống kê các đối tượng được hưởng chính sách theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ; giám sát quá trình thực hiện và tham mưu các chế độ, chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc.
6. Kho bạc Nhà nước tỉnh:
a) Căn cứ nguồn vốn được bố trí và các chế độ quy định, thực hiện việc kiểm soát và tiến hành cấp phát vốn cho chủ đầu tư;
b) Quản lý, theo dõi việc tạm ứng, thanh quyết toán vốn, báo cáo định kỳ việc thanh quyết toán theo quy định hiện hành.
7. Ủy ban nhân dân các huyện:
a) Xây dựng kế hoạch hàng năm gửi các sở, ngành liên quan tổng hợp trình UBND tỉnh phê duyệt trên cơ sở đăng ký của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn về diện tích, số lượng, chủng loại giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, các vật tư cần thiết khác theo nhu cầu của người dân có hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật.
UBND huyện lựa chọn ký kết với các đơn vị có đủ năng lực cung ứng giống, vật tư tới các xã được hỗ trợ đảm bảo chất lượng, giá cả phù hợp với thị trường tại từng thời điểm.
b) UBND huyện chỉ đạo đơn vị chuyên môn tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân chuyển đổi cây trồng có giá trị kinh tế cao đưa vào sản xuất. Giao cơ quan thường trực Chương trình 30a của huyện, có trách nhiệm đôn đốc việc làm chuồng nuôi trâu, bò trồng cỏ trước khi tổ chức mua trâu, bò giúp Uỷ ban nhân dân huyện tìm các nhà cung cấp giống cây trồng, phân bón, giống trâu, bò đảm bảo chất lượng, giá cả phù hợp.
Phối kết hợp với Chi cục Thú y, Chi cục BVTV, Trung tâm khuyến nông tỉnh, chỉ đạo các trạm, phòng ban chuyên môn, UBND các xã, thị trấn, tổ chức triển khai tập huấn kỹ thuật gieo trồng, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi.
c) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã tổ chức triển khai họp dân đến tận thôn, bản để bình xét đối tượng được thụ hưởng. Trên cơ sở bình xét công khai trong cộng đồng, đảm bảo đúng đối tượng (có biên bản họp bình xét), UBND xã xây dựng kế hoạch trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt. Tổ chức đôn đốc người dân làm chuồng trại, trồng cỏ... (yêu cầu bắt buộc các hộ phải có chuồng nuôi và trồng đủ diện tích cỏ theo quy định trước khi nhận hỗ trợ về giống vật nuôi).