Điều 4. Quản lý và sử dụng phí
1. Quản lý và sử dụng phí đấu giá, phí tham gia đấu giá tài sản:
a) Đối với đơn vị thu phí là Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá, phí tham gia đấu giá tài sản thu được là khoản thu thuộc ngân sách nhà nước, được quản lý và sử dụng như sau:
- Hội đồng bán đấu giá tài sản được sử dụng số tiền phí thu được của người tham gia đấu giá để trang trải các chi phí cho Hội đồng bán đấu giá tài sản, nếu thừa nộp vào ngân sách nhà nước.
- Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản được để lại 80% số tiền phí đấu giá, phí tham gia đấu giá tài sản thu được để trang trải chi phí cho việc bán đấu giá và thu phí theo quy định của pháp luật; số còn lại 20% nộp vào ngân sách nhà nước.
b) Đối với đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản (trừ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất): Phí đấu giá, phí tham gia đấu giá tài sản thu được là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước. Đơn vị thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền phí thu được sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Quản lý và sử dụng phí tham gia đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất:
a) Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, Hội đồng bán đấu giá quyền sử dụng đất quản lý, sử dụng phí theo quy định tại Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tài chính.
b) Cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất phải trả cho tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp khoản chi phí dịch vụ để thực hiện việc tổ chức bán đấu giá. Chi phí dịch vụ thực hiện theo quy định tại Điều 13 Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tài chính.