Điều 19. Xử lý kết quả rà soát và công bố kết quả rà soát
1. Xử lý văn bản do Ủy ban nhân dân huyện ban hành
a) Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện xử lý văn bản bằng hình thức sửa đổi, bổ sung, thay thế đối với các văn bản thuộc lĩnh vực đơn vị phụ trách hoặc theo phân công, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện.
b) Định kỳ 6 (sáu) tháng một lần, Phòng Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan thẩm định đề xuất xử lý văn bản quy phạm pháp luật sau khi rà soát, lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân huyện ban hành đã hết hiệu lực thi hành, có nội dung không còn phù hợp, trái pháp luật trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện xem xét quyết định với các hình thức hủy bỏ, bãi bỏ văn bản, công bố văn bản hết hiệu lực thi hành và báo cáo Sở Tư pháp.
2. Xử lý văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã - thị trấn ban hành
Định kỳ 6 (sáu) tháng một lần, Công chức tư pháp - hộ tịch xã - thị trấn có trách nhiệm lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã - thị trấn ban hành đã hết hiệu lực thi hành, có nội dung không còn phù hợp, trái pháp luật trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định xử lý văn bản với các hình thức hủy bỏ, bãi bỏ văn bản, công bố văn bản hết hiệu lực thi hành và báo cáo gửi Phòng Tư pháp.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã - thị trấn có trách nhiệm xem xét, có ý kiến chỉ đạo xử lý kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Các quyết định hủy bỏ, bãi bỏ, công bố văn bản hết hiệu lực thi hành được công bố theo quy định tại Khoản 2 - Điều 9 của Quy chế.