Điều 11. Xử lý vi phạm
1. Tổ chức, cá nhân vi phạm các Quy định về sản xuất, kinh doanh phân bón thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Phân bón sau hai lần kiểm tra liên tục trong một năm có thành phần, hàm lượng các chất dinh dưỡng không đạt tiêu chuẩn chất lượng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn loại ra khỏi Danh mục phân bón; Đồng thời, UBND tỉnh ban hành quyết định đình chỉ lưu thông có thời hạn toàn bộ sản phẩm phân bón của đơn vị sản xuất phân bón kém chất lượng.
3. Doanh nghiệp sản xuất phân bón kém chất lượng, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, phải bồi thường tổn thất và thiệt hại cho người sử dụng, mức bồi thường bằng hai lần mức thiệt hại thực tế và được xác định theo công thức:
M = (A x B) + C
Trong đó:
M: Mức bồi thường;
A: Tỷ lệ kém chất lượng;
B: Số lượng hàng hóa vi phạm;
C: Khoản thiệt hại thực tế do sử dụng phân bón kém chất lượng.
Trong trường hợp không xác định được người bị thiệt hại, thì khoản thu được nộp vào ngân sách nhà nước để sử dụng đầu tư các công trình phục vụ nông dân.
4. Tổ chức, cá nhân tái phạm từ hai lần trở lên về hành vi kinh doanh phân bón không có tên trong Danh mục phân bón (thuộc nhóm hàng hóa cấm kinh doanh), ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, còn bị áp dụng thêm hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn.
5. Tổ chức, cá nhân sản xuất phân bón có thành phần, hàm lượng các chất dinh dưỡng không đạt tiêu chuẩn chất lượng hoặc kinh doanh phân bón kém chất lượng khi phát hiện đều phải thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng.