vanban.org

Điều 9. Trách nhiệm của thuyền trưởng — Quyết định 06/2005/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Đà Nẵng Ban hành 14/01/2005 Hiệu lực 29/01/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 06/2005/QĐ-UB › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Trách nhiệm của thuyền trưởng

1.Trách nhiệm thường xuyên:

a/ Phổ biến, hướng dẫn, đơn độc thuyền viên thực hiện các quy định về an toàn khi hoạt động trên biển; phân công nhiệm vụ cho từng thuyền viên và tập huấn cho thuyền viên các phương án đảm bảo an toàn;

b/ Kiểm tra thuyền viên và tàu cá về trang thiết bị an toàn, thẻ bảo hiểm thuyền viên và thẻ bảo hiểm thân tàu trước khi ra biển hoạt động;

c/ Chấp hành và đôn đốc thuyền viên chấp hành nghiêm chỉnh quy tắc phòng ngừa va chạm tàu thuyền khi hoạt động trên biển;

d/ Đôn đốc thuyền viên trực tàu và sẵn sàng điều động tàu ứng phó với bão, lũ và hỗ trợ các tàu cá khác khi có tai nạn xảy ra;

đ/ Khi tàu cá ra biển hoạt động và khi về bến, xuất trình các giấy tờ và khai báo vùng biển hoạt động, số thuyền viên thực tế có trên tàu với trạm Biên phòng nơi gần nhất;

e/ Khi tàu cá xa bờ phải thông báo cho cơ quan quản lý thủy sản nơi đăng ký tàu cá về tần số và thời gian liên lạc với đất liền;

2. Trách nhiệm trong trường hợp có bão:

a/ Khi bão xa:

Thông báo tin bão cho thuyền viên biết, đồng thời kiểm tra lại các trang thiết bị an toàn và thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam hoặc các Đài phát thanh và truyền hình địa phương.

Liên lạc chặt chẽ với Đài Chỉ huy trên bờ (trực thuộc Sở Thủy sản Nông lâm) để được trợ giúp và bằng mọi biện pháp thông tin cho các tàu cá trong tổ (và tàu cá khác) đang hoạt động trung khu vực;

b/ Khi bão gần:

Thông tin bão gần cho thuyền viên biết, nhanh chóng ra lệnh thu lưới và rời khỏi ngư trường để về nơi trú bão gần nhất, thông báo kịp thời cho các tàu cá trong tổ (và tàu cá khác) đang hoạt động trong khu vực.

Liên lạc với Đài Chỉ huy trên bờ để được trợ giúp kịp thời;

c/ Khi có tin bão khẩn cấp:

Phải ra lệnh cho thuyền viên mặc áo phao cá nhân, đưa trang thiết bị cấp cứu và vị trí sẵn sàng ứng cứu và kịp thời đưa tàu cá vào nơi trú ẩn gần nhất.

Liên lạc với Đài Chỉ huy trên bờ để được trợ giúp kịp thời.

Trong trường hợp khẩn cấp, có thể quyết định bỏ lưới để kịp đưa tàu về nơi trú bão. Điều động tàu cá,và thuyền viên của mình và ứng cứu khi phát hiện có người, tàu cá trong tổ hoặc tàu cá khác bị nạn theo nguyên tắc cứu người trước, cứu tài sản sau;

d/ Khi tàu đang trong vùng bão:

Phải trực tiếp điều khiển và chỉ huy phương tiện của mình; sử dụng mọi biện pháp và kinh nghiệm để đảm bảo an toàn cho người và tàu cá.

Kịp thời thông báo cho Đài Chỉ huy trên bờ, các tàu cá trong tổ và tàu cá khác gần nhất biết về vị trí tàu mình đang hoạt động và phát tín hiệu cấp cứu khi tàu bị nạn.

Tham gia ứng cứu khi phát hiện người và tàu cá trong tổ hoặc tàu cá khác bị nạn;

đ/ Khi bão tan:

Phải báo các kịp thời cho Tổ trưởng hoặc Tổ phó để báo cáo với cơ quan chức năng (Biên phòng, Sở Thủy sản Nông lâm, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản) hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú hoặc nơi tàu thuyền di chuyển đến về tình trạng người và tàu cá của mình. Đồng thời kiểm tra lại điều kiện an toàn cho người và tàu trước khi đi hoạt động trở lại;

3. Trách nhiệm trong trường hợp có tai nạn xảy ra:

a/ Khi thuyền trưởng nhận được thông tin có tàu cá trong tổ hoặc tàu khác bị nạn, phải lập tức điều động đến nơi có tai nạn, thông báo cho các tàu cá trong tổ và Đài Chỉ huy trên bờ biết; có biện pháp cứu người và tàu cá bị nạn;

b/ Khi tàu cá của mình bị nạn, thuyền trưởng phải kịp thời thông báo cho Đài Chỉ huy trên bờ, các tàu cá trong tổ và tàu cá khác gần nhất biết về vị trí tàu đang hoạt động để tới cứu nạn;

c/ Trong trường hợp tai nạn vượt quá khả năng ứng phó của các tổ khai thác hải sản thì phải khẩn trương phát tín hiệu cấp cứu trên tần số cứu nạn hàng hải để thông báo cho các Đài Thông tin duyên hải (trực canh 24/24).