vanban.org

Điều 41: — Quyết định 06/1999/QĐ-BGDĐT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành 26/02/1999 Hiệu lực 13/03/1999 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 3 phiên bản · 27 năm
Quyết định số 09/2001/QĐ-BGDĐT Về việc sửa đổi một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp Bổ túc trung học cơ sở và Bổ túc trung học phổ thông ban hành theo Quyết định số 06/1999/QĐ-BGDĐT ngày 26/2/1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo · 09/2001/QĐ-BGDĐT
Quyết định số 05/2000/QĐ-BGD Về việc sửa đổi một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp Bổ túc THCS và Bổ túc THPT ban hành theo Quyết định số 06/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 26/2/1999 · 05/2000/QĐ-BGD
Quyết định số 06/1999/QĐ-BGDĐT Về việc ban hành Quy chế thi Tốt nghiệp Bổ túc trung học cơ sở và Bổ túc trung học phổ thông · 06/1999/QĐ-BGDĐT
14/04/200109/2001/QĐ-BGDĐTChưa hợp nhất 13/03/1999Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 06/1999/QĐ-BGDĐT › Chương X › Điều 41
Đọc toàn văn

Điều 41:

Nguyên tắc và thể thức làm việc của Hội đồng:

1. Chủ tịch, Phó Chủ tịch phải có mặt tại địa điểm chấm thi trước để làm một số phần việc dành riêng cho Lãnh đạo Hội đồng. Thời gian cụ thể do Giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo quyết định căn cứ vào số lượng bài thi mà Hội đồng phải chấm.

Tổ trưởng, tổ phó chấm thi phải có mặt trước giám khảo một ngày để nghiên cứu trước bản hướng dẫn chấm thi và chuẩn bị cho việc chấm thi của tổ.

2. Tổ trưởng điều khiển tổ nghiên cứu và thực hiện đúng bản Hướng dẫn chấm thi. Nếu trong tổ có ý kiến thắc mắc không tự giải quyết được hoặc phát hiện có sự nhầm lẫn trong văn bản thì yêu cầu Chủ tịch xin ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo và Kiểm tra thi, tuyệt đối không được tự thay đổi hướng dẫn chấm và biểu điểm.

3. Trước khi giao bài cho giám khảo, tổ phải chấm chung l0 bài để giúp cho mọi thành viên của tổ đều quán triệt văn bản hướng dẫn chấm thi. Khi cho điểm các bài chấm chung phải ghi rõ "bài chấm chung" kèm theo chữ ký của tổ trưởng và một giám khảo.

4. Trừ những bài chấm chung, mỗi bài thi phải được hai giám khảo chấm độc lập, ghi điểm riêng theo số phách. Sau khi mỗi bài đã được hai giám khảo chấm xong, tổ trưởng mới giao lại cho hai giám khảo đó để thống nhất ghi điểm vào bài thi, vừa bằng chữ, vừa bằng số và cùng ký tên. Điểm của bài thi được ghi bằng mực đỏ. Nếu hai giám khảo muốn thay đổi điểm thì gạch chéo điểm đã cho và ghi điểm mới bằng cả số và chữ rồi cùng ký tên xác nhận việc sửa điểm.

5. Điểm bài thi là tổng số điểm của từng phần cộng lại. Điểm nhỏ nhất của từng phần là 0,25. Điểm toàn bài là một số nguyên hoặc số thập phân từ 0 đến 10 mà phần thập phân chỉ là 0 hoặc 5.

6. Ngoài Hội đồng phúc khảo, không ai có quyền thay đổi điểm bài thi do hai giám khảo đã nhất trí ghi.

7. Chỉ được hồi phách khi đã chấm xong toàn bộ các bài thi. Nghiêm cấm Hội đồng chấm thi chấm lại và thay đổi điểm những bài đã hồi phách. 

8. Việc ghi điểm bài thi vào bảng ghi tên, ghi điểm của mỗi phòng thi do một nhóm giám khảo thực hiện, phải có: một người đọc, một người ghi, một người kiểm tra. Nếu có nhầm lẫn thì người ghi điểm gạch chéo điểm ghi sai, ghi điểm mới bên cạnh. Ở phần chú thích ghi lý do sửa điểm. Cuối mỗi bảng ghi điểm bài thi phải ghi rõ: họ tên người đọc, người ghi, người kiểm tra, tổng số điểm sửa đổi, rồi cả ba người cùng ký.

Trường hợp lập bảng ghi tên ghi điểm qua máy vi tính cũng phải bảo đảm một người đọc, một người nạp đĩa mềm, một người kiểm tra và cuối bảng ghi tên, ghi điểm phải ghi rõ họ, tên của cả ba người và ba người cùng ký.