Điều 10. Xử lý nợ bị rủi ro
1. Người vay không trả được nợ do nguyên nhân khách quan theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002:
a) Đối với các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: Đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro được áp dụng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại NHCSXH.
Đối với một số trường hợp cho vay đặc thù của địa phương dẫn đến người vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan ngoài quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg; Thông tư số 161/2010/TT-BTC; trên cơ sở ý kiến đề xuất của NHCSXH cấp tỉnh (cấp huyện) phối hợp với Sở (phòng) Lao động - TB&XH, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính (Phòng tài chính- kế hoạch) và các đơn vị có liên quan xem xét, thẩm định thống nhất bằng văn bản đối với từng trường hợp cụ thể, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh (huyện) xem xét, quyết định đảm bảo theo quy định
b) Thẩm quyền và trách nhiệm xử lý nợ bị rủi ro:
Chủ tịch UBND cấp tỉnh (cấp huyện): Quyết định xóa nợ (gốc, lãi) cho khách hàng đối với trường hợp quy mô của đợt xóa nợ vượt quá Quỹ Dự phòng rủi ro hiện có. Sở Tài chính (Phòng Tài chính - kế hoạch) chủ trì phối hợp với Sở (Phòng) Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh thẩm định hồ sơ đề nghị xóa nợ, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh (cấp huyện) xem xét, quyết định.
Trưởng Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh (cấp huyện): Quyết định gia hạn nợ, khoanh nợ, xóa nợ cho khách hàng đối với trường hợp quy mô của đợt xóa nợ không vượt quá Quỹ Dự phòng rủi ro hiện có theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/07/2010.
c) Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được NHCSXH trích lập đối với cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn ngân sách địa phương.
d) Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, tùy theo tình hình thực tế khoản vay bị rủi ro thuộc nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, NHCSXH cấp tỉnh, huyện đề xuất cơ quan Tài chính cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì, phối hợp với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội cấp tỉnh, cấp huyện, báo cáo UBND cấp tỉnh, huyện bổ sung ngân sách địa phương để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách địa phương chuyển qua NHCSXH cấp tỉnh, cấp huyện.
đ) Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng sau khi được sử dụng để xử lý xóa nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tối đa, được bổ sung vào nguồn vốn ủy thác để cho vay theo quy định.
e) Đối với Quỹ dự phòng rủi ro địa phương đã trích lập theo quy định tại Thông tư số 73/2008/TT-BTC ngày 01/8/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng Quỹ giải quyết việc làm địa phương và kinh phí quản lý Quỹ quốc gia về việc làm được tiếp tục giao NHCSXH quản lý để xử lý rủi ro theo quy định (Trường hợp Quỹ quốc gia về việc làm địa phương giải thể).
g) Sau khi thực hiện xử lý nợ bị rủi ro theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, NHCSXH nơi cho vay lập báo cáo kết quả xử lý nợ bị rủi ro gửi NHCSXH tỉnh tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh chậm nhất 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử lý.
2. Những thiệt hại do nguyên nhân chủ quan của người vay, của tổ chức nhận ủy thác hoặc của cán bộ, viên chức NHCSXH cấp tỉnh (cấp huyện) gây ra thì các đối tượng này phải bồi hoàn và chịu trách nhiệm trước pháp luật.