Điều 4. Diện tích tối thiểu được phép tách thửa
1. Diện tích tối thiểu được tách thửa đối với trường hợp thửa đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn (quy hoạch xã nông thôn mới), quy hoạch sản xuất nông nghiệp được phê duyệt:
a) Đất nông nghiệp:
- Đối với đất nông nghiệp là đất trồng cây lâu năm:
Phường thuộc quận: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 150m2 trở lên.
Thị trấn thuộc huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 200m2 trở lên.
Xã thuộc huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 300m2 trở lên.
- Đối với các loại đất nông nghiệp là đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác:
Phường, thị trấn thuộc quận, huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 500m2 trở lên.
Xã thuộc huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 1.000m2 trở lên.
b) Đối với loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở:
Việc tách thửa đất phải có dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; đảm bảo mật độ xây dựng và yêu cầu của Quy chuẩn xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ- BXD ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Bộ Xây dựng. Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 40m2 trở lên đối với đất tại các phường, thị trấn và từ 60m2 trở lên đối với đất tại các xã.
2. Diện tích tối thiểu được tách thửa đối với trường hợp thửa đất có mục đích sử dụng trên giấy chứng nhận không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn (quy hoạch xã nông thôn mới), quy hoạch sản xuất nông nghiệp được phê duyệt:
a) Thửa đất có mục đích sử dụng là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở nằm trong quy hoạch đất ở hiện hữu tự cải tạo (không thuộc trường hợp nhà nước phải thu hồi để thực hiện dự án đầu tư theo quy hoạch hoặc kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt) thì được phép tách thửa theo diện tích tối thiểu đối với loại đất ở (từ 40m2 trở lên đối với đất tại các phường, thị trấn và từ 60m2 trở lên đối với đất tại các xã). Trước khi tách thửa đất, người sử dụng đất phải thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất sang loại đất ở đối với diện tích dự kiến tách thửa, trừ các trường hợp: Thi hành Quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật; thực hiện di chúc đã phát sinh hiệu lực; thực hiện tặng, cho giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
b) Thửa đất thuộc khu vực phải thu hồi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nhưng chưa có văn bản về chủ trương thu hồi đất thì vẫn được phép tách thửa theo diện tích tối thiểu được quy định tại Khoản 1 Điều này. Trường hợp này, người sử dụng đất phải cam kết tiếp tục sử dụng thửa đất được chia tách theo đúng mục đích đã được xác định, không được thay đổi mục đích sử dụng đất, không được xây dựng mới hoặc mở rộng nhà ở và các công trình hiện có.
3. Trường hợp thửa đất có đất ở kết hợp với đất có mục đích khác nằm trong quy hoạch đất ở theo quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn (quy hoạch xã nông thôn mới), quy hoạch sản xuất nông nghiệp được phê duyệt, thì thửa đất tách mới và thửa đất còn lại phải có diện tích đất ở từ 40m2 trở lên đối với đất tại các phường, thị trấn và từ 60m2 trở lên đối với đất tại các xã. Diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở kèm theo thửa đất tách mới và thửa đất còn lại phải đảm bảo về diện tích tối thiểu theo quy định tại Khoản 1 Điều này.