vanban.org

Điều 15. Hình thức và trình tự đấu giá — Quyết định 05/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Bình Phước Ban hành 25/01/2011 Hiệu lực 04/02/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 05/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 05/2011/QĐ-UBND
04/02/2011Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 23/2006/QĐ-UBND Ban hành quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất · 23/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 05/2011/QĐ-UBND › Chương II › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Hình thức và trình tự đấu giá

Tùy từng trường hợp cụ thể, tổ chức bán đấu giá quyết định việc đấu giá được thực hiên một trong hai hình thức sau:

1. Đấu giá trực tiếp bằng lời nói:

Người tham gia đấu giá trả giá trực tiếp bằng lời nói. Sau mỗi lần trả giá, người điều hành đấu giá nhắc lại 03 (ba) lần một cách rõ ràng, chính xác bằng lời nói mức giá đã trả cao nhất, mỗi lần cách nhau 30 (ba mươi) giây và liên tục cho đến khi không còn người trả giá tiếp thì người có mức giá đã trả cao nhất và cao hơn mức giá khởi điểm là người trúng đấu giá. Cuộc đấu giá kết thúc khi xác định được mức giá trả cao nhất và cao hơn mức giá khởi điểm và không còn người trả giá tiếp.

2. Đấu giá bằng bỏ phiếu kín:

Người tham gia đấu giá trực tiếp bỏ phiếu kín theo từng vòng, liên tục (phiếu do Tổ chức bán đấu gia cung cấp) cho đến khi không còn người yêu cầu đấu giá tiếp thì người có mức giá trả cao nhất là người trúng đấu giá. Cuộc đấu giá kết thúc khi xác định được mức giá trả cao nhất và cao hơn mức giá khởi điểm và không còn người bỏ phiếu trả giá tiếp. Thời gian tối đa của mỗi vòng trả giá không quá 03 (ba) phút.

3. Trường hợp người tham gia đấu giá trả giá thấp hơn giá khởi điểm:

a) Trường hợp tất cả những người tham gia đấu giá ở vòng đấu thứ nhất đều bỏ mức giá thấp hơn giá khởi điểm thì bị coi là không hợp lệ, người điều hành đấu giá tuyên bố cuộc đấu giá không thành;

b) Trường hợp một hoặc một số người tham gia đấu giá trả giá thấp hơn mức giá khởi điểm, thì người điều hành đấu giá vẫn tiếp tục cuộc đấu giá với số người còn lại;

c) Những người trả giá thấp hơn mức giá khởi điểm thì bị coi là không hợp lệ và không được lấy lại khoản tiền đặt trước và số tiền này thuộc về người có tài sản bán đấu giá.

4. Trường hợp đấu giá đối với khu đất đã được chia thành nhiều thửa (lô) nhỏ để làm nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân thì người tham gia đấu giá được quyền đăng ký‎ đấu giá nhiều thửa đất khác nhau. Trường hợp người tham gia đấu giá, nhưng không trúng đấu giá thửa đất trước, nếu không vi phạm quy chế đấu giá thì được quyền tham gia đấu giá thửa đất sau.

5. Nội dung thực hiện sau khi đấu giá:

Sau khi kết thúc cuộc đấu giá, người điều hành đấu giá có trách nhiệm lập Biên bản đấu giá, biên bản phải thể hiện các nội dung chủ yếu như: Vị trí thửa (lô) đất; mức giá khởi điểm; bước giá; số vòng trả giá; mức giá trả cao nhất; mức giá cao liền kề; họ tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân của người trả giá cao nhất trúng đấu giá hoặc ghi nhận kết quả đấu giá không thành. Biên bản bán đấu giá tài sản phải có chữ ký của đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản, người ghi biên bản, người tham dự cuộc bán đấu giá và đại diện ít nhất 01(một) người tham gia đấu giá ký tên.