Điều 8. Chế độ thông tin
1. Người đứng đầu doanh nghiệp hoặc cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý doanh nhân, công chức, viên chức phải có văn bản gửi Sở Ngoại vụ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày phát sinh sự việc nếu doanh nhân, công chức, viên chức sử dụng thẻ thay đổi công tác và không thuộc diện được cấp thẻ quy định tại Điều 2 Quy chế này.
2. Định kỳ hàng năm (chậm nhất vào ngày 25 tháng 12 hàng năm) hoặc đột xuất (khi có các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thẻ ABTC), người đứng đầu doanh nghiệp hoặc cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý doanh nhân, công chức, viên chức được cấp thẻ ABTC phải có trách nhiệm tổng hợp, thống kê, báo cáo về việc cấp thẻ (kèm theo bản sao thẻ ABTC) và việc sử dụng thẻ ABTC gửi đến Sở Ngoại vụ để tổng hợp, quản lý, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin kê khai trong báo cáo và cam kết chấp hành đúng pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như các quy định của các nước và vùng lãnh thổ thành viên APEC áp dụng đối với người mang thẻ ABTC. Trường hợp các đơn vị nêu trên không báo cáo hoặc báo cáo chậm hơn so với quy định coi như vi phạm quy định. Sở Ngoại vụ sẽ báo cáo, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh ra văn bản và thông báo đến Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an về việc thẻ ABTC của doanh nhân, doanh nghiệp đó không còn giá trị sử dụng.
3. Trường hợp các cá nhân làm mất hoặc làm hư hỏng thẻ ABTC phải báo cáo kịp thời gửi đến Sở Ngoại vụ trong vòng 03 ngày kể từ ngày phát sinh sự việc.
4. Sở Ngoại vụ có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo định kỳ hàng năm lên UBND tỉnh việc doanh nhân, công chức, viên chức sử dụng thẻ ABTC.