vanban.org

Điều 6. Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân thành phố. — Quyết định 04/2002/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 06/07/2006 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/07/2006 Thay thế: 109/2006/QĐ-UB · 28/06/2006
Hà Nội Ban hành 15/01/2002 Hiệu lực 30/01/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 24 năm
Quyết định số 109/2006/QĐ-UB Ban hành quy định về trình tự, thủ tục, cơ chế xử lý thu hồi đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người việt nam định cư ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân nước ngoài vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn thành phố hà nội · 109/2006/QĐ-UB
Quyết định số 04/2002/QĐ-UB Về việc xử lý, thu hồi đất của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội · 04/2002/QĐ-UB
06/07/2006109/2006/QĐ-UBThay thế Đang xem 30/01/2002Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 04/2002/QĐ-UB › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân thành phố.

1. Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành quyết định thu hồi đất đối với các trường hợp:

a) Các trường hợp đất không sử dụng để hoang hoá, sử dụng đất sai mục đích được giao quy định tại quyết định giao đất, cho thuê đất thuộc thẩm quyền Uỷ ban nhân dân thành phố.

b) Kiến nghị thu hồi đất của Cục thuế Hà Nội khi người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.   

2. Quyết định xử phạt hành chính các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai theo thẩm quyền.

3. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý thu hồi đất đối với các trường hợp được Thủ tướng Chính phủ quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng để đất hoang hoá, không sử dụng, sử dụng đất sai mục đích.

4. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các Bản án, Quyết định, của Toà hành chính đã có hiệu lực pháp luật đối với các quyết định thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành mà Uỷ ban nhân dân thành phố cho là không đúng pháp luật. Để Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và trả lời Thủ tướng Chính phủ theo Điều 8 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 21 tháng 5 năm 1996.