Điều 4. Quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị
1. Quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị phải đảm bảo theo nguyên tắc quy định tại Điều 3 Quy định này và đạt tỷ lệ bóng sáng như sau:
a) Đối với bến, bãi đỗ xe, điểm đỗ xe buýt công cộng, đường phố, cầu, nút giao thông là 100%;
b) Đối với ngõ, phố tối thiểu là 95%;
c) Đối với công viên, vườn hoa, các khu vực ven hồ nước, ven hai bên bờ sông là 100%.
d) Đối với các không gian công cộng có ý nghĩa về chính trị, lịch sử, văn hóa, thể thao trong đô thị là 100%.
đ) Đối với các công trình di tích lịch sử trong đô thị tối thiểu là 95%.
e) Đối với các công trình ăng ten thu, phát sóng có kiểu dáng, hình ảnh là 100%.
g) Đối với các công trình kiến trúc, xây dựng, tháp truyền hình tối thiểu là 95%.
2. Thời gian vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng được điều chỉnh theo từng mùa và giảm thiểu số bóng sáng hoặc tiết giảm cường độ bóng sáng sau 23 giờ đêm để tiết kiệm điện năng như sau:
a) Mùa hè từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 10: Bật lúc 18 giờ 00 phút và tắt lúc 05 giờ 00 phút ngày hôm sau.
b) Mùa đông từ ngày 16 tháng 10 năm trước đến ngày 15 tháng 4 năm sau: Bật lúc 17 giờ 00 phút và tắt lúc 06 giờ 30 phút ngày hôm sau.
c) Áp dụng các biện pháp giảm điện năng tiêu thụ nhưng phải đảm bảo an toàn trong thời gian lưu lượng giao thông thấp (từ 23 giờ 00 phút đến sáng hôm sau): Chuyển sang chế độ tiết giảm từ 25% đến 40% công suất đối với các lưới chiếu sáng có tủ điều chỉnh điện áp hoặc lắp ballast 2 mức công suất; tắt 1/3 số đèn đối với các lưới đèn chiếu sáng đường phố còn lại, tắt toàn bộ số đèn trang trí kiến trúc;
d) Vào các ngày lễ, tết và các sự kiện quan trọng của tỉnh thì vận hành cụ thể theo phương án cụ thể được Ủy ban nhân dân huyện, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) phê duyệt.