Điều 11. Xét, công nhận sáng kiến
1. Hình thức xét, công nhận sáng kiến áp dụng một trong hai hình thức sau đây:
a) Người đứng đầu cơ sở tự đánh giá, quyết định công nhận sáng kiến đối với trường hợp người đứng đầu cơ sở có đủ căn cứ, đủ năng lực tự đánh giá và phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá, công nhận của mình.
b) Người đứng đầu cơ sở thành lập Hội đồng sáng kiến để đánh giá giải pháp được yêu cầu công nhận sáng kiến làm căn cứ cho người đứng đầu cơ sở xem xét, quyết định việc công nhận sáng kiến.
2. Nội dung, tiêu chí đánh giá xét, công nhận sáng kiến thực hiện theo Mẫu phiếu tại Phụ lục 1.
3. Thời hạn, trình tự, thủ tục xét, công nhận sáng kiến thực hiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN.
4. Trường hợp sáng kiến được tạo ra do nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật và người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến chính là tác giả sáng kiến thì sáng kiến đó phải được đánh giá thông qua Hội đồng sáng kiến.