Điều 11. Phân công trách nhiệm
1. Sở Công Thương
a) Là cơ quan thường trực của Hội đồng xét công nhận làng nghề, làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ đề nghị xét công nhận làng nghề và đơn thư khiếu nại (nếu có); công bố Quyết định công nhận làng nghề;
b) Xây dựng kế hoạch kinh phí phục vụ cho công tác thẩm định, xét công nhận làng nghề hàng năm trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt theo kế hoạch khuyến công hàng năm; tiếp nhận và quyết toán kinh phí theo quy định của pháp luật;
c) Giới thiệu danh sách thành viên Hội đồng xét công nhận làng nghề trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định;
d) Hàng năm lập danh sách các làng có nghề tiểu thủ công nghiệp đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn và xem xét, xác nhận đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề;
e) Hàng năm, chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện rà soát, kiểm tra, tổng hợp tình hình hoạt động của các làng nghề được công nhận, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý đối với những làng nghề không đảm bảo các tiêu chí sau khi được công nhận; kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động của các làng nghề đã được công nhận sau 05 năm, lập danh sách các làng nghề không đạt các tiêu chí quy định tại Điều 4 Quy chế này, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định thu hồi bằng công nhận làng nghề;
f) Hướng dẫn, tạo điều kiện để các làng nghề tham gia các hội chợ, triển lãm thương mại hoặc các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng bá sản phẩm của làng nghề;
g) Định kỳ 6 tháng, năm báo cáo tình hình hoạt động, phát triển làng nghề với Uỷ ban nhân dân tỉnh;
h) Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương có làng nghề, các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện tốt Quy chế này.
2. Sở Tài nguyên và Môi trường
a) Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương hướng dẫn các làng có nghề tiểu thủ công nghiệp tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành;
b) Xác nhận các làng có nghề tiểu thủ công nghiệp đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề kịp thời, giúp cho công tác xét công nhận làng nghề hàng năm được thuận lợi;
c) Hàng năm lập danh sách làng nghề không đạt tiêu chí về môi trường gửi Sở Công Thương để báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh.
3. Sở Tài chính: Đảm bảo kinh phí cho công tác xét công nhận làng nghề.
4. Các Sở, ngành liên quan
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Sở Công Thương để thực hiện tốt Quy chế này.
5. Uỷ ban nhân dân cấp huyện
a) Tổ chức hướng dẫn các địa phương không ngừng phát huy thế mạnh, khôi phục, duy trì phát triển ngành nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp; phối hợp với các Sở, ngành, địa phương hướng dẫn các làng có nghề tiểu thủ công nghiệp tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành;
b) Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã lập danh sách làng nghề đủ tiêu chí và lập hồ sơ đề nghị xét công nhận;
c) Phối hợp với Sở Công Thương rà soát, kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động của các làng nghề đã được công nhận;
d) Báo cáo định kỳ 6 tháng, năm tình hình hoạt động, phát triển làng nghề với Sở Công Thương;
6. Uỷ ban nhân dân cấp xã
a) Chỉ đạo các làng nghề chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương;
b) Tuyên truyền, vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng, phát triển nghề và làng nghề; hướng dẫn, đôn đốc các làng nghề tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành;
c) Hướng dẫn các làng có các nghề tiểu thủ công nghiệp và có nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống đạt tiêu chí của Quy chế này, lập và hoàn thiện hồ sơ theo quy định tại Điều 4 và Điều 6 Quy chế này, gửi Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
d) Thường xuyên phối hợp với Sở Công Thương, Uỷ ban nhân dân cấp huyện rà soát, kiểm tra đánh giá tình hình hoạt động của các làng nghề.
e) Báo cáo định kỳ 6 tháng, năm tình hình hoạt động, phát triển làng nghề với Uỷ ban nhân dân cấp huyện.