Điều 1. Ban hành chính sách hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang với các nội dung sau:
1. Đối tượng và phạm vi áp dụng
- Đối tượng: hộ gia đình và cá nhân không đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại Điều 3 của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang ban hành kèm theo Quyết định số 31/2009/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang và có thời điểm sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành);
- Phạm vi áp dụng: các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau.
2. Chính sách hỗ trợ về đất
a) Trường hợp sử dụng đất nằm ngoài ranh quy hoạch đất rừng (rừng phòng hộ và rừng đặc dụng):
Đối với các trường hợp không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đã sử dụng đất ổn định sau ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, nhưng thực tế Nhà nước không quản lý mà người dân vẫn tiếp tục sử dụng, có đầu tư và có thành quả lao động trên đất được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp, được hỗ trợ bằng 70% giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất theo hiện trạng sử dụng của từng loại đất.
b) Trường hợp sử dụng đất nằm trong ranh quy hoạch đất rừng (rừng phòng hộ và rừng đặc dụng):
- Đối với các trường hợp không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đã sử dụng đất ổn định sau ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 18 tháng 6 năm 1998 (ngày có Quyết định giao đất cho Ban Quản lý rừng phòng hộ), có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, nhưng thực tế Nhà nước không quản lý mà người dân vẫn tiếp tục sử dụng, có đầu tư và có thành quả lao động trên đất, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp, được hỗ trợ bằng 60% giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất theo hiện trạng sử dụng của từng loại đất;
- Đối với các trường hợp không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đại năm 2003, nhưng đã sử dụng đất ổn định sau ngày 18 tháng 6 năm 1998 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, kể cả những hộ có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp, được hỗ trợ bằng 40% giá đất rừng sản xuất.
c) Trường hợp nhận giao khoán đất rừng:
- Đối với các trường hợp nhận giao khoán đất rừng mà tự bỏ vốn đầu tư, hỗ trợ bằng 70% giá đất rừng sản xuất;
- Đối với các trường hợp nhận giao khoán đất rừng do Nhà nước đầu tư vốn, hỗ trợ bằng 50% giá đất rừng sản xuất.
d) Diện tích được hỗ trợ:
Diện tích được hỗ trợ đối với các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều này là diện tích thực tế đang sử dụng nhưng tối đa không quá 03ha đối với đất nông nghiệp và không quá 300m2 đối với đất ở.
đ) Giá đất hỗ trợ:
- Giá đất hỗ trợ là giá đất tại thời điểm bắt đầu thực hiện việc chi trả bồi thường theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Trường hợp được hỗ trợ về đất ở: nếu hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất ở sau ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì giá trị được hỗ trợ phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Trường hợp được hỗ trợ về đất rừng sản xuất: nếu tại thời điểm phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phê duyệt không có bảng giá đất rừng sản xuất thì tính bằng 50% giá bồi thường quyền sử dụng đất nông nghiệp tại cùng vị trí đất được hỗ trợ.
e) Trường hợp không được bồi thường, hỗ trợ quyền sử dụng đất:
Các trường hợp lấn, chiếm đất rừng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau, không được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều này.
3. Đối với nhà ở, vật kiến trúc và cây trồng
Hỗ trợ bằng 80% giá trị nhà ở, vật kiến trúc và 100% đối với cây trồng.
4. Chính sách tái định cư
Đối với những hộ gia đình và cá nhân có nhà ở bị giải tỏa nhưng không đủ điều kiện bồi thường về đất ở và không còn chỗ ở nào khác trong huyện mà có yêu cầu tái định cư, thì được bố trí tái định cư, nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại khu tái định cư.