Điều 4. Chính sách cụ thể về phát triển kinh tế trang trại
1. Chính sách đất đai
a) Hộ có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được Ủy ban nhân dân huyện, thị xã giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; diện tích đất được giao, được thuê phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất kinh doanh của chủ trang trại.
b) Hộ sử dụng đất làm kinh tế trang trại được chủ động chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất theo phương án sản xuất, kinh doanh đã được Ủy ban nhân dân huyện, thị xã xét duyệt theo quy định của Luật Đất đai.
c) Hộ đang sử dụng đất làm kinh tế trang trại phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là không có tranh chấp thì được tiếp tục sử dụng theo quy định sau:
- Trường hợp đất được giao không thu tiền sử dụng đất trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản thì được tiếp tục sử dụng trong thời hạn còn lại;
- Trường hợp đất được giao không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản thì phải chuyển sang thuê đất;
- Trường hợp sử dụng đất do được Nhà nước cho thuê, đất nhận chuyển nhượng, đất được thừa kế, nhận khoản của tổ chức, do hộ gia đình, cá nhân góp vốn thì được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật Đất đai.
Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức kinh tế trang trại để bao chiếm, tích tụ đất đai không vì mục đích sản xuất.
2. Chính sách giao rừng, cho thuê rừng trồng là rừng sản xuất:
Các hộ có nhu cầu và khả năng sử dụng rừng để phát triển kinh tế trang trại theo dự án có hiệu quả kinh tế được Ủy ban nhân dân huyện, thị xã giao rừng, cho thuê rừng, đăng ký quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng là rừng sản xuất theo quy định tại Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng; diện tích rừng được giao, được thuê phụ thuộc vào diện tích rừng hiện có của địa phương và khả năng sản xuất kinh doanh của chủ trang trại.
3. Chính sách thuế
a) Trang trại của hộ sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với trang trại sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản sẽ có hướng dẫn riêng sau khi có quy định của Chính phủ.
b) Chủ trang trại được miễn toàn bộ tiền thuê đất, thuê mặt nước khi đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư (theo danh mục kèm theo Quy định này) trên địa bàn các huyện Na Hang, Chiêm Hóa.
c) Trang trại mới thành lập được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước với thời hạn cụ thể kể từ khi đi vào hoạt động trong các trường hợp sau:
- Bảy năm (07) đối với trang trại đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư trên địa bàn huyện: Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và thị xã Tuyên Quang.
- Mười một năm (11) đối với trang trại đầu tư trên địa bàn huyện Na Hang, Chiêm Hóa và trang trại đầu tư vào các lĩnh vực khuyến khích đầu tư (theo danh mục kèm theo Quy định này) trên địa bàn huyện: Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và thị xã Tuyên Quang.
- Mười lăm năm (15) đối với trang trại đầu tư vào lĩnh vực khuyến khích đầu tư trên địa bàn huyện Na Hang, Chiêm Hóa.
d) Các chủ trang trại xây dựng các công trình thủy lợi, sử dụng nước mặt, nước ngầm trong phạm vi trang trại theo quy hoạch không phải nộp thuế tài nguyên nước.
4. Chính sách khuyến nông
a) Các trang trại được ưu tiên hỗ trợ từ các chương trình dự án của Nhà nước về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và phát triển nông thôn do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý và triển khai thực hiện hàng năm, thông qua việc cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật.
b) Các trang trại ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới về giống cây, con so với giống cây, con hoặc công nghệ hiện đang sử dụng vào sản xuất phù hợp với quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn được hỗ trợ kinh phí khuyến nông để xây dựng mô hình cụ thể như sau:
- Ngân sách Nhà nước hỗ trợ phần chênh lệch về giống, vật tư chính (thức ăn, phân bón, hoá chất, thuốc) trong trường hợp áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất mà nhu cầu đầu tư tăng thêm so với mức bình thường, mức hỗ trợ tối đa 60% mức chi phí về giống và tối đa 40% chi phí vật tư chính nhưng tổng mức hỗ trợ không quá 20 triệu đồng/mô hình.
- Đối với một số mô hình có tính đặc thù riêng, mức hỗ trợ như sau:
+ Mô hình công nghệ cao hỗ trợ tối đa 40% mức chi phí về giống và tối đa 20% chi phí vật tư chính và một phần kinh phí chuyển giao công nghệ, nhưng tổng mức hỗ trợ không quá 50 triệu đồng/mô hình.
+ Mô hình áp dụng công cụ, cải tiến kỹ thuật, hỗ trợ tối đa 30% giá trị công cụ, nhưng tổng mức hỗ trợ không quá 10 triệu đồng/mô hình.
+ Mô hình cơ giới hóa nông nghiệp, bảo quản chế biến và ngành nghề khác (không bao gồm lò sấy của mô hình bảo quản chế biến); hỗ trợ tối đa 50% trang thiết bị, nhưng tổng mức hỗ trợ không quá 75 triệu đồng/mô hình.
- Về mua bán quyền, quy trình công nghệ mới, phải gắn với mô hình cụ thể được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Nhà nước hỗ trợ tối đa 70% chi phí mua bán quyền (không bao gồm kinh phí mua nhà xưởng, nhà lưới, nhà kính, thiết bị công nghệ), nhưng tổng mức hỗ trợ không quá 80 triệu đồng/mô hình.
Quy mô mô hình, mức hỗ trợ cho từng mô hình cụ thể do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định, trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật của từng mô hình và đơn giá vật tư của từng năm, đảm bảo phù hợp với tính chất của từng mô hình, nhưng không vượt quá tỷ lệ tối đa và tổng mức hỗ trợ quy định ở trên.
5. Chính sách tín dụng
Trang trại có dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang được vay vốn tín dụng đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư của Ngân hàng phát triển theo quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh; việc vay vốn được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 423/2000/QĐ-NHNN1 ngày 22/9/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về chính sách tín dụng đối với kinh tế trang trại, chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định cụ thể của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.
6. Chính sách lao động, đào tạo
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm. Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động. Chủ trang trại phải trang bị đồ dùng bảo hộ lao động theo từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động.
Đối với trang trại trên địa bàn huyện Na Hang, Chiêm Hoá, chủ trang trại được ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo để tạo việc làm cho lao động tại chỗ; thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đến phát triển sản xuất.
Các chủ trang trại mới thành lập được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn theo các chuyên đề nâng cao năng lực quản lý, khoa học công nghệ phục vụ sản xuất, phát triển trang trại được hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo; mức hỗ trợ không quá 2 triệu đồng/trang trại/năm; thời gian hỗ trợ trong 3 năm kể từ khi trang trại được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo quy định.
7. Chính sách thị trường
Các trang trại được hỗ trợ cung cấp thông tin thương mại, thị trường, kỹ thuật, các chương trình xúc tiến thương mại; được ưu tiên mời tham dự các hội thảo về thương mại, dự báo thị trường, dịch vụ khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ tổng hợp trong nông nghiệp.
Hỗ trợ 30% kinh phí đăng ký nhãn hiệu, chất lượng, thương hiệu đối với chủ trang trại có sản phẩm hàng hóa được cấp giấy chứng nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao, nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 50 triệu đồng/sản phẩm.
Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm; chủ trang trại tham gia hội chợ triển lãm lần đầu được ngân sách tính hỗ trợ kinh phí thuê gian hàng trưng bày sản phẩm hàng hóa theo mức tối đa không quá 10 triệu đồng/trang trại.
Khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình và sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộ nông dân.
8. Chính sách về vệ sinh môi trường:
Các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung theo quy hoạch được hỗ trợ 1 lần kinh phí xây hầm Bioga để đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khỏe cộng đồng dân cư, mức hỗ trợ tối đa không quá 2 triệu đồng/trang trại.
9. Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại.
Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước cần thu hồi đất được giao, được thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường theo quy định hiện hành của Nhà nước.
10. Chủ trang trại có nghĩa vụ:
Trong quá trình sản xuất phải thực hiện các quy trình kỹ thuật về bảo vệ đất và làm giàu đất và các quy định khác của pháp luật về đất đai;
Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
Tuân thủ các quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về lao động;
Tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh.