Điều 7. Giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp
1. Doanh nghiệp có quyền yêu cầu các Sở, Ban ngành cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.
Việc giải đáp pháp luật không áp dụng đối với các yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp về những trường hợp cụ thể liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Các hình thức giải đáp pháp luật được thực hiện theo quy định tại Khoản 3, Điều 10 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP, cụ thể là:
a) Giải đáp bằng văn bản.
b) Giải đáp thông qua mạng điện tử.
c) Giải đáp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại.
d) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
3. UBND tỉnh khuyến khích giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp thông qua mạng điện tử. Các Sở, Ban ngành cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng riêng chuyên mục giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp trên trang web của đơn vị mình.
4. Các Sở, Ban ngành cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận và trả lời yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp.
a) Các Sở, Ban ngành cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời yêu cầu giải đáp pháp luật trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày doanh nghiệp cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan đến yêu cầu giải đáp pháp luật. Đối với các trường hợp có nội dung phức tạp hoặc liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực thì thời hạn trả lời là 30 ngày làm việc.
b) Đối với nội dung phức tạp có yếu tố nước ngoài như đăng ký thương hiệu quốc tế cho các sản phẩm của doanh nghiệp thì thời gian tùy vào quy định của quốc gia đó.
c) Các tổ chức đại diện của doanh nghiệp có trách nhiệm làm đầu mối tiếp nhận các yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp là hội viên chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền để được giải đáp theo quy định.
5. UBND tỉnh tổ chức xây dựng mạng lưới cộng tác viên tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Khuyến khích các luật sư, luật gia, các chuyên gia pháp luật tham gia các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn.
6. Sở Tư pháp chủ trì xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện nhiệm vụ này.