vanban.org

Điều 13. Xử lý nợ bị rủi ro — Quyết định 01/2019/QĐ-UBND

Bến Tre Ban hành 03/01/2019 Hiệu lực 14/01/2019 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 10 năm
Quyết định số 01/2019/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Bến Tre · 01/2019/QĐ-UBND
05/01/202352/2022/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Hiện hành 14/01/2019Bản gốcThay thế
Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy chế tạo lập, quản lý, sử dụng nguồn vốn từ Ngân sách cấp tỉnh uỷ thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Bến Tre · 33/2015/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 01/2019/QĐ-UBND › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Xử lý nợ bị rủi ro

1. Đối với các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro được áp dụng theo quy định của Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại NHCSXH.

2. Những trường hợp phải xử lý rủi ro khác:

a) Đối với khoản vay thuộc nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh ủy thác: Chi nhánh NHCSXH tỉnh phối hợp với Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội, Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan xem xét, thẩm định thống nhất bằng văn bản đối với từng trường hợp cụ thể, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định theo quy định;

b) Đối với khoản vay thuộc nguồn vốn ngân sách cấp huyện ủy thác: Phòng Giao dịch NHCSXH huyện phối hợp với Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội, Phòng Tài chính - Kế hoạch và các đơn vị có liên quan xem xét, thẩm định thống nhất bằng văn bản đối với từng trường hợp cụ thể, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xem xét, quyết định theo quy định.

3. Thẩm quyền xem xét xử lý nợ bị rủi ro do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định đối với nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh; do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quyết định đối với nguồn vốn ngân sách cấp huyện.

4. Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được Chi nhánh NHCSXH tỉnh, Phòng giao dịch NHCSXH các huyện, thành phố trích lập đối với cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn ngân sách địa phương.

5. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, tùy theo tình hình thực tế khoản vay bị rủi ro thuộc nguồn vốn ngân sách tỉnh, cấp huyện, xử lý như sau:

a) Đối với khoản vay bị rủi ro thuộc nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh: Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Chi nhánh NHCSXH tỉnh báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, bổ sung từ nguồn ngân sách cấp tỉnh để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách cấp tỉnh chuyển qua Chi nhánh NHCSXH tỉnh.

b) Đối với khoản vay bị rủi ro thuộc nguồn vốn ngân sách cấp huyện: Phòng Tài chính - Kế hoạch chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Phòng Giao dịch NHCSXH báo cáo Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố bổ sung từ nguồn ngân sách cấp huyện để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách cấp huyện chuyển qua Phòng Giao dịch NHCSXH các huyện, thành phố.

6. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng sau khi được sử dụng để xử lý xóa nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tối đa, được bổ sung vào nguồn vốn ủy thác để cho vay theo quy định.

7. Đối với Quỹ dự phòng rủi ro địa phương trích lập theo quy định tại Thông tư số 73/2008/TT-BTC ngày 01 tháng 8 năm 2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng Quỹ giải quyết việc làm địa phương và kinh phí quản lý Quỹ quốc gia về việc làm được tiếp tục giao NHCSXH quản lý để xử lý nợ rủi ro theo quy định.