Điều 4. Đầu mối chủ trì thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản
1. Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan cấp tỉnh khác chủ trì, phối hợp với Ban pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp và các cơ quan liên quan thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh có nội dung điều chỉnh những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình.
Người đứng đầu tổ chức pháp chế hoặc đơn vị được giao thực hiện công tác pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, phối họp với các đơn vị có liên quan giúp Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản.
Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn, tổng họp kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản chung của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Thủ trưởng các cơ quan cấp huyện khác chủ trì, phối hợp với Ban pháp chế Hội đồng nhân dân cấp huyện, Trưởng phòng Tư pháp và các cơ quan liên quan thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện có nội dung điều chỉnh những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình.
Trưởng Phòng Tư pháp cấp huyện (sau đây gọi tắt là Phòng Tư pháp) có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn, tổng họp kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản chung của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện.
3. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã.
Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã (sau đây gọi tắt là công chức Tư pháp - Hộ tịch) có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân phối hợp với Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân cùng cấp rà soát, hệ thống hóa văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp mình ban hành.
4. Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và Công chức Tư pháp - Hộ tịch là đầu mối chủ trì trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công bố danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần; đối với văn bản còn hiệu lực pháp luật phải xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch hệ thống hóa và công bố kết quả hệ thống hóa văn bản theo định kỳ 05 (năm) năm một lần.