Điều 4. Nguyên tắc cưỡng chế
1. Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành trong tranh chấp đất đai đã có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện quyết định nhưng không tự nguyện chấp hành.
2. Người phải chấp hành đã nhận được Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, Quyết định công nhận hòa giải thành trong tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đó đã được niêm yết, thông báo công khai theo quy định của pháp luật.
3. Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản của người có thẩm quyền. Cơ quan thực hiện cưỡng chế đã vận động, giải thích, thuyết phục người bị cưỡng chế tự nguyện thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, Quyết định công nhận hòa giải thành trong tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật nhưng không tự nguyện chấp hành.
4. Quá trình cưỡng chế phải tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn, đúng quy định của pháp luật.
5. Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính.
6. Không tổ chức thực hiện cưỡng chế trong các trường hợp sau:
a) Trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau; trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán
b) Các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và trong thời gian diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, của Tỉnh; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách nếu họ là người bị cưỡng chế và các trường hợp đặc biệt khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương
7. Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên liên quan trong quá trình thực hiện cưỡng chế; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
8. Việc tạm ngừng thực hiện quyết định cưỡng chế khi có quyết định của người có thẩm quyền.